1. Một số khái niệm cơ bản

1.1 Quốc tịch là gì?

Một yếu tố quan trọng góp phần cấu tạo nên quốc gia là cư dân sống trên lãnh thổ quốc gia và việc tổ chức Nhà nước có mối quan hệ qua lại với cư dân đó. Mỗi quốc gia có những tập hợp dân cư khác nhau và có mối quan hệ của dân với Nhà nước cũng rất khác nhau. Mối quan hệ phức tạp này trong khoa học pháp lý gọi là quốc tịch. Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất xác định công dân của một Nhà nước và trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Khái niệm Quốc tịch ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa tư bản.

Khái niệm này xuất hiện cùng với tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản. Thông thường, người nào cũng có một tổ quốc và từ khi sinh ra đều mang một quốc tịch nhất định. Đây không chỉ là vấn đề tình cảm và tâm lý mà còn là mối liên hệ giữa cá nhân đó với nhà nước. Mối liên hệ này xác định địa vị pháp lý của họ. Trong các xã hội khác nhau, thời kỳ lịch sử khác nhau, công dân sẽ có địa vị pháp lý khác nhau. Địa vị pháp lý đó được củng cố và hoàn thiện hơn qua từng giai đoạn phát triển của xã hội. Bởi vậy, thời điểm lịch sử thay đổi dẫn đến khái niệm về quốc tịch, pháp luật về quốc tịch thay đổi. Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, quốc tịch là một chế định pháp lý bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật được thiết lập giữa cá nhân với một Nhà nước, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Mỗi quốc gia có một chế định pháp lý khác nhau về quốc tịch, do vậy, Luật quốc tịch mỗi nước quy định cụ thể vấn đề về nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch của mỗi công dân phù hợp với đặc thù của nước đó. Tuyên ngôn nhân quyền 1948 đã khẳng định “Tất cả mọi người đều có quyền có quốc tịch. Không ai được tùy tiện tước bỏ quốc tịch hoặc từ chối quyền thay đổi quốc tịch của người khác” (Điều 15 Tuyên ngôn nhân quyền 1948). Có thể nói, quyền có quốc tịch là kim chỉ nam xuyên suốt và là cơ sở đầu tiên cho việc thực thi các quyền công dân khác. Theo từ điển Oxford của Anh: Quốc tịch là sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó.

Theo từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì “quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân. Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài. Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước”. Còn các chuyên gia Mỹ thì cho rằng quốc tịch là một đặc tính phát sinh từ sự kiện quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó. Luật Quốc tịch Lào khẳng định: Quốc tịch Lào thể hiện mối quan hệ pháp luật và chính trị, ràng buộc một người nào đó với Nhà nước Cộng hòa  dân chủ nhân dân Lào và là cơ sở xác định người đó có địa vị là công dân Lào.

 

1.2 Khái niệm quốc tịch theo pháp luật Việt Nam

Quốc tịch gắn với một người kể từ khi người đó được sinh ra trừ một số trường hợp vì những lý do nhất định có thể có sự thay đổi quốc tịch. Một người có quốc tịch có nghĩa họ là công dân của nước mà họ mang quốc tịch. Vì vậy, nhà nước phải có quyền và nghĩa vụ nhất định đối với công dân của mình và ngược lại, công dân cũng phải có quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước mà mình mang quốc tịch. Điều kiện, cách thức hưởng quốc tịch, mất quốc tịch, thay đổi quốc tịch do pháp luật của mỗi nước quy định. Sự khác nhau trong quy định của các nước về cách thức hưởng và mất quốc tịch là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người có nhiều quốc tịch và người không quốc tịch. Ở Việt Nam, ngày 28.6.1988 tại kì họp thứ ba Quốc hội Khoá VIII đã chính thức thông qua Luật quốc tịch Việt Nam. Lần đầu tiên ở nước ta có văn bản pháp luật hoàn chỉnh điều chỉnh các vấn đề về quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, qua thời gian áp dụng, Luật quốc tịch 1988 đã bộc lộ một số hạn chế nhất định cần được khắc phục. Ngày 20.5.1998, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X, kì họp thứ 3 đã thông qua Luật quốc tịch mới. Luật này có hiệu lực từ ngày 01.01.1999 thay thế Luật quốc tịch 1988.

Luật quốc tịch năm 2014 đã đưa ra khái niệm về “Quốc tịch Việt Nam” (Điều 1): “Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam”. Như vậy, đến Luật quốc tịch Việt Nam năm 2014, chúng ta đã có được khái niệm cụ thể về quốc tịch Việt Nam mà các văn bản pháp luật về quốc tịch trước đó chưa đưa ra được Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: Quốc tịch là một khái niệm, một phạm trù chính trị - pháp lý xác định một mối quan hệ giữa cá nhân một con người với một Nhà nước nhất định. Quan hệ này cho phép xác định con người nào đó là công dân của một nước cụ thể. Mỗi quốc gia có một chế độ pháp lý khác nhau về quốc tịch. Mối liên hệ pháp lý này được biểu hiện ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó đối với quốc gia mà họ mang quốc tịch và tổng thể quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với công dân của mình. Quốc tịch gắn liền với mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết đi, là tiền đề để họ được hưởng các quyền công dân và làm nghĩa vụ công dân đối với nhà nước mà mình mang quốc tịch.

 

2. Nguyên tắc quốc tịch

Nguyên tắc quốc tịch được quy định tại Điều 4, như sau: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác." So sánh với “nguyên tắc một quốc tịch” của Luật quốc tịch năm 1998, thì “nguyên tắc quốc tịch” trong Luật Quốc tịch năm 2014 có sự mềm dẻo hơn. Nếu như ở Luật năm 1998 có ghi là “nguyên tắc một quốc tịch” thì đến Luật năm 2014 đã bỏ bớt từ “một”, chỉ còn là “nguyên tắc quốc tịch”. Ngoài nội dung đã quy định trong Luật năm 1998 “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”, Luật năm 2008 còn bổ sung thêm một điểm mới quan trọng “trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Như vậy Luật tiếp tục khẳng định nguyên tắc một quốc tịch, nhưng cũng công nhận có những trường hợp ngoại lệ vừa có quốc tịch Việt Nam, đồng thời có quốc tịch nước ngoài được quy định cụ thể trong các điều luật. Việc khẳng định một số ngoại lệ có thể có hai quốc tịch không có nghĩa từ bỏ nguyên tắc một quốc tịch mà chỉ sửa đổi nguyên tắc này cho mềm dẻo hơn, phù hợp hơn với thực tế biến động dân cư và trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, quy định này cũng phù hợp với thực tiễn giao lưu quốc tế; nhiều nước trước đây thực hiện chính sách một quốc tịch cứng, mới đây đã sửa đổi theo hướng mềm dẻo hơn là vừa khẳng định nguyên tắc một quốc tịch nhưng có mở rộng ngoại lệ hai quốc tịch (như Nga, Đức, Mê-hi-cô...). Những trường hợp ngoại lệ nêu trên là những trường hợp đặc biệt, được Chủ tịch nước cho phép khi xin nhập quốc tịch Việt Nam (khoản 3 điều 19), xin trở lại quốc tịch Việt Nam (khoản 5 Điều 23). Người xin nhập quốc tịch Việt Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thuộc một trong những trường hợp như là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam, người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, được trở lại quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài, trong trường hợp đặc biệt, được Chủ tịch nước cho phép. Ngoài ra, Luật còn quy định có những trường hợp có thể có hai quốc tịch, đó là trường hợp quốc tịch của trẻ em là con nuôi (Điều 37), trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng vẫn mong muốn giữ quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 13).

 

3. Quốc tịch với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản của cá nhân được công nhận và bảo đảm bởi pháp luật quốc gia và quốc tế. Quốc tịch là yếu tố nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, là yếu tố thể hiện sự liên kết của một cá nhân với quốc gia mà cá nhân mang quốc tịch. Một người có quốc tịch có nghĩa họ là công dân của nước mà họ mang quốc tịch. Vì vậy, nhà nước phải có quyền và nghĩa vụ nhất định đối với công dân của mình và ngược lại, công dân cũng phải có quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước mà mình mang quốc tịch. Quy định pháp luật Việt Nam về quốc tịch được thể hiện chủ yếu qua Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam 2014. Luật này quy định các nguyên tắc, căn cứ xác định quốc tịch Việt Nam; các trường hợp được nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam; các trường hợp được song tịch; các thủ tục liên quan đến quốc tịch Việt Nam; các quyền và nghĩa vụ của người có quốc tịch Việt Nam và người không có quốc tịch cư trú ở Việt Nam. Theo Điều 2 Luật Quốc tịch 2014, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch: Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này  Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam.

Để xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trước hết, phải xác định quốc tịch của họ. Nếu như quyền và nghĩa vụ là chế định trung tâm của Luật hiến pháp về địa vị pháp lý của người công dân thì quốc tịch là chế định có tính chất tiền đề, có ý nghĩa quyết định. Chỉ trên cơ sở đã xác định được quốc tịch của một cá nhân mới có thể xác định được rõ ràng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ công dân của họ, bởi lẽ không phải bất kì ai sống trên lãnh thổ một quốc gia cũng đều là công dân của nhà nước đó. Giữa những người là công dân và những người không phải là công dân của nhà nước có sự khác nhau căn bản về quyền và nghĩa vụ. Đặc trưng của quốc tịch là người có quốc tịch của một nhà nước thì được hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật của nhà nước đó quy định đồng thời phải chịu sự chi phối và quản lý về mọi mặt của nhà nước. Vậy, ai là người được hưởng các quyền và nghĩa vụ công dân, ai phải chịu sự chi phối toàn diện bởi chủ quyền của một nhà nước, điều đó chỉ có thể được xác định trên cơ sở đã xác định được quốc tịch của họ. Ngày nay, khi con người đã trở thành trung tâm của mọi sự phấn đấu, mọi hoạt động của Nhà nước ta thì các quyền và nghĩa vụ công dân ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển về mọi mặt của xã hội. Đồng thời, yêu cầu của Nhà nước đối với mỗi công dân cũng lớn hơn, đòi hỏi họ phải sử dụng đầy đủ hơn, tích cực hơn các quyền và thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ công dân của mình. Hiến pháp năm 1992 của Nhà nước ta đã quy định rộng rãi, rõ ràng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nó làm cho mọi công dân ý thức được rõ ràng và đầy đủ hơn địa vị thực tế của mình trong xã hội. Hiến pháp năm 1992 vừa là cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm và thực hiện quyền dân chủ của công dân, vừa xác định các bảo đảm về chính trị, kinh tế, pháp lý đối với các quyền và nghĩa vụ công dân, vừa động viên quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội. Ngay ở đây, ta thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa quốc tịch với các quyền và nghĩa vụ công dân. 

Tuyên ngôn độc lập của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 02/9/1945 đã tuyên bố với toàn thế giới và quốc dân đồng bào là nước nhà độc lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là Nhà nước có chủ quyền, nhân dân Việt Nam trở thành công dân của một Nhà nước Việt Nam độc lập. Ở nước Việt Nam, chủ quyền thuộc về nhân dân. Như vậy, quốc tịch Việt Nam hay nói cách khác, mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam cách mạng với công dân Việt Nam thể hiện rõ địa vị xã hội thực tế của công dân và các quyền cơ bản của họ. Cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quốc tịch Việt Nam với nội dung hoàn toàn mới cũng ra đời. Quốc tịch Việt Nam là mối quan hệ pháp lý - chính trị hoàn toàn mới về chất giữa công dân Việt Nam và Nhà nước dân chủ nhân dân - một Nhà nước đã trở thành và cũng là lần đầu tiên trở thành Nhà nước của nhân dân lao động. Với sự phát triển liên tục và không ngừng của Nhà nước về mọi mặt, nội dung quốc tịch Việt Nam ngày càng trở nên phong phú hơn. Điều đó thể hiện sự mở rộng và hoàn thiện không ngừng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng như những điều kiện bảo đảm về mọi mặt của nó. Chỉ đơn thuần so sánh các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua các bản hiến pháp của Nhà nước ta đã thấy nội dung các quyền và nghĩa vụ công dân Việt Nam ngày càng đầy đủ, toàn diện và phong phú hơn. 

Quý khách hàng có thể tham khảo bài viết liên quan sau: 

1. Quốc tịch là gì? Quy định pháp luật Việt Nam về quốc tịch

2. Thôi quốc tịch là gì? Quy định về thôi quốc tịch theo Luật Quốc tịch hiện hành? 

Trên đây là chia sẻ của luật Minh Khuê về chủ đề "Mọi công dân đều có quyền có quốc tịch" Mong rằng bài viết trên của chúng tôi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 1900.6162 của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp, giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có yêu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung tư vấn của chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn quý khách.