1. Quốc tịch Việt Nam, người có quốc tịch Việt Nam

-  Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ mối quan hệ này sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.

- Căn cứ Điều 13 Luật quốc tịch 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, người có Quốc tịch Việt Nam được định nghĩa như sau:

+ Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đã có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật quốc tịch 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

+  Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh mình quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của luật quốc tịch 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp hộ chiếu Việt Nam.

2. Căn cứ xác định người mang quốc tịch Việt Nam

Để xác định người mang quốc tịch Việt Nam, ta cần căn cứ vào những điều kiện như sau:

- Cha, mẹ đều là công dân Việt Nam, được sinh ra ở Việt Nam học ở nước ngoài.

- Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai, được sinh ra ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài.

- Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, nếu cha mẹ có sự thỏa thuận bằng văn bản về việc chọn quốc tịch Việt Nam vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trong trường hợp này, trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì không đương nhiên có quốc tịch Việt Nam, trẻ chỉ có quốc tịch Việt Nam nếu tại thời điểm đăng ký khai sinh cha mẹ trẻ có sự thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con.

- Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài mà được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam và cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con.

-  Trẻ em Được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam.

- Trẻ em Được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai.

- Người được nhập quốc tịch Việt Nam. Điều kiện để một người được nhập  quốc tịch Việt Nam bao gồm:

+ Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam bao gồm khả năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt phù hợp với môi trường sống và làm việc của người xin nhập quốc tịch Việt Nam.

+ Đang thường trú ở Việt Nam từ năm năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam và đã được cơ quan công an có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú. Thời gian thường trú tại Việt Nam của ngày sinh nhật quốc tịch Việt Nam được tính từ ngày người đó được cấp thẻ thường trú

+ Có khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, thu nhập hợp pháp của người đó bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam

- Người được trở lại quốc tịch Việt Nam.

- Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai.

- Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.

- Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc con nuôi.

- Người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ (nếu người con từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người con).
 
Người đã có quốc tịch Việt Nam mà bị mất quốc tịch Việt Nam, được Chủ tịch nước quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, bị tước quốc tịch Việt Nam thì không còn là công dân Việt Nam.

3. Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam

Sau khi đáp ứng các nội dung về xác định người có quốc tịch Việt Nam, của mỗi công dân Việt Nam để chứng minh mình có quốc tịch Việt Nam cũng như hưởng quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam. Căn cứ Điều 11 Luật quốc tịch 2008 sửa đổi, bổ sung 2014, ta có một số các giấy tờ sau đây có giá trị chứng minh người có quốc tịch Việt Nam:

+ Giấy khai sinh

+ Giấy chứng minh nhân dân

+ Hộ chiếu Việt Nam

+ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam

+ Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài

+ Quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam là con nuôi

Lưu ý: trong trường hợp sử dụng giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là giấy khai sinh và giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ.

4. Tình trạng không quốc tịch tại Việt Nam

Một trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không quốc tịch tại Việt Nam có thể kể đến như sau:

Thứ nhất, không quốc tịch do xung đột pháp luật giữa các nước về vấn đề quốc tịch. Mỗi nước có quyền quy định về pháp luật quốc tịch khác nhau.

Thứ hai, không quốc tịch do đã có quốc tịch nhưng bị mất quốc tịch.

Thứ ba, điều kiện xin nhập quốc tịch chưa phù hợp dẫn đến việc không có quốc tịch.

Để giải quyết tình trạng không quốc tịch ở Việt Nam, đảng và nhà nước đã đưa ra một số chính sách cần thực hiện sau đây:

Một là, Việt Nam để cân nhắc sớm tham gia các hiệp ước về quốc tịch trên thế giới để cải thiện được tình trạng pháp lý và nâng cao vị thế của người không quốc tịch. Việc tham gia các hiệp ước sẽ cải thiện và đảm bảo quyền cơ bản của con người đối với người không quốc tịch.

Hai là, Việt Nam cần rà soát các quy định còn bất cập để sửa đổi, bổ sung các quy định về người không quốc tịch trong luật hộ tịch và luật quốc tịch.

Ba là, Việt Nam cần áp dụng và tận dụng tối đa lợi thế về công nghệ thông tin và công nghệ số và hoạt động đăng ký khai sinh và các thủ tục hành chính được quy định trong luật quốc tịch, vừa nâng cao hiệu quả và chất lượng cũng như có thể quản lý một cách hệ thống thông tin về người dân.

 Điển hình cho công cuộc hỗ trợ người dân có quốc tịch đó là câu chuyện về xóm không quốc tịch tại các tỉnh Tây Ninh, long an, An Giang, đồng tháp,... những người dân không có quốc tịch ở đây di cư từ Việt Nam sang Biển Hồ - Campuchia để mưu sinh, nhưng do không thuộc quốc tịch nào khiến họ phải trở về Việt Nam với đôi bàn tay trắng. Họ dựng chòi tạm bợ, xiêu vẹo sống bắt cá qua ngày hơn 10 năm nay mà không có quốc tịch. Sau này chính quyền địa phương từng bước đưa họ lên bờ, hỗ trợ họ nhà cô để sinh sống, thực hiện các thủ tục, hồ sơ để nhà nước cấp quốc tịch cho những người dân này.

>> Xem thêm: Quốc tịch là gì? Quy định pháp luật Việt Nam về quốc tịch

>>> Xem thêm: Không quốc tịch là gì? Ví dụ về người không quốc tịch

>> Xem thêm: Bị mất quốc tịch Việt Nam trong những trường hợp nào?

Trên đây là bài viết của luật Minh khuê về nội dung Căn cứ để xác định người có quốc tịch Việt Nam. Hy vọng bài viết trên là câu trả lời hữu ích cho bạn đọc, nếu có bất cứ thắc mắc liên quan tới bài viết hoặc có nhu cầu được tư vấn pháp luật bởi đội ngũ luật sư chuyên nghiệp hãy liên hệ hotline 19006162 hoặc email lienhe@minhkhue.vn để được hỗ trợ tốt nhất. Xin trân trọng cảm ơn!