1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam

Vấn đề quốc tịch gắn liền với vấn đề độc lập dân tộc và chủ quyền nhà nước. Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nước ta không có độc lập, dân ta không có tự do và không có chủ quyền. Do không có Nhà nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền nên cũng không có quốc tịch Việt Nam.

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Để khẳng định và thực hiện chủ quyền của Nhà nước, để ghi nhận về mặt pháp lý địa vị xã hội thực tế mới của nhân dân Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã thay mặt Nhà nước ta kí một số sắc lệnh quy định vấn đề quốc tịch Việt Nam. Đó là Sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945, sắc lệnh số 73-SL ngày 07/12/1945, Sắc lệnh số 25-SL ngày 25/2/1946, Sắc lệnh số 215- SL ngày 20/10/1948, sắc lệnh số 051-SL ngày 14/12/1959. về sau, pháp luật về quốc tịch Việt Nam được bổ sung bởi Nghị quyết số 1013 NQ/TVQH ngày 08/02/1971 củaUBTVQH.

Các văn bản pháp luật quốc tịch trên đã xác định các điều kiện để có và mất quốc tịch Việt Nam. Phù hợp với Hiến pháp nước ta lúc bấy giờ, các quy định về quốc tịch đã khẳng định các nguyên tắc bình đẳng nam nữ, bình đẳng dân tộc và nhân đạo. Đặc biệt, pháp luật về quốc tịch của Nhà nước ta ngay từ đầu đã khẳng định nguyên tắc mỗi người chỉ có một quốc tịch. Quy định này vừa nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia, vừa nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Nhà nước ta và những đứa trẻ sinh ra sau này, tránh sự xung đột pháp luật giữa các quốc gia với nhau.

Các văn bản pháp luật quốc tịch vừa nêu trên của Nhà nước ta đã đáp ứng một cách kịp thời, thiết thực yêu cầu chính trị là xác định được quốc tịch của công dân Nhà nước ta, làm cơ sở và tạo điều kiện đảm bảo cho công dân được hưởng các quyền về mọi mặt đồng thời làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Tuy nhiên, do điều kiện lúc đó, các quy định trên còn tản mạn, thiếu hệ thống và chưa hoàn chỉnh. Những điểm hạn chế của pháp luật quốc tịch Việt Nam trong thời gian này có thể thấy ở những nội dung sau:

- Chưa thể hiện đầy đủ nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ, còn có sự hạn chế về lựa chọn quốc tịch.

Điều 2 Sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945 quy định công dân Việt Nam là những người mà:

1. Cha là công dân Việt Nam;

2. Cha không rõ là ai hay không thuộc quốc tịch nào mà mẹ là công dân Việt Nam.

3. Đẻ ở trên lãnh thổ nước Việt Nam mà cha mẹ không rõ là ai hay không thuộc một quốc tịch nào.

Chế độ ta khẳng định sự bình đẳng giữa nam và nữ. Cuộc đấu tranh mà nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhằm giành độc lập dân tộc, thực hiện một sự bình đẳng và công bằng xã hội. Thành quả đó, nguyên tắc đó đã được ghi nhận ở tất cả các hiến pháp của Nhà nước ta.

Nhưng xét Điều 2 sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945 nói trên, ta thấy quy định này chưa phù hợp với nguyên tắc nam, nữ bình đẳng đã được pháp luật quốc tế và luật pháp của Nhà nước ta ghi nhận. Điều 1 sắc lệnh số 73-SL ngày 07/12/1945 quy định các điều kiện mà người nước ngoài phải có khi họ xin nhập quốc tịch Việt Nam. Trong đó điều kiện thứ sáu nêu rõ: “Nếu có vợ hay chồng là người ngoại quốc thì phải được người vợ hay chồng thoả thuận cho nhập quốc tịch Việt Nam

Quy định này đã hạn chế quyền được chọn quốc tịch (Droit d'option de la nationalité) là nguyên tắc đã được pháp luật quốc tế công nhận (Theo Điều 1 Công ước về quốc tịch của người phụ nữ kết hôn (ban hành ngày 29/7/1957) thì “việc kết hồn, việc ỉy hôn cũng như những trường họp thay đổi quốc tịch của vợ hay chồng không ảnh hưởng đến quốc tịch của người kia”).

- Chưa có sự phân biệt rõ giữa mất quốc tịch theo ý muốn và tước quốc tịch. Điều 4 sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945 quy định: “Ke từ ngày ban hành sắc lệnh này, những người Việt Nam đã vào dân Pháp sẽ coi là công dân Việt Nam

Như vậy, Điều quy định trên mặc nhiên khôi phục quốc tịch Việt Nam cho tất cả những người Việt Nam đã nhập quốc tịch Pháp, cho dù họ chưa bày tỏ nguyện vọng bỏ quốc tịch Pháp và nhập quốc tịch Việt Nam. Mặt khác, Điều 4 sắc lệnh số 53-SL còn trái nguyên tắc không công nhận một người có nhiều quốc tịch mà Nhà nước ta đã quy định nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Điều 7 Sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945 quy định về vấn đề những công dân Việt Nam bị mất quốc tịch. Trong các quy định này chưa phân biệt sự khác nhau giữa mất quốc tịch theo ý muốn và tước quốc tịch. Mất quốc tịch theo ý muốn (Perte de la nationalité) là do hành động tự nguyện xin thôi quốc tịch một nước, còn tước quốc tịch (Decheance de la nationalité) lại là do có hành vi vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng hoặc có hành động chống đối lại nhà nước mà mình mang quốc tịch. Như vậy, thôi quốc tịch và bị tước quốc tịch có tính chất hoàn toàn khác nhau, một bên là hoàn toàn tự nguyện, một bên mang tính chất cưỡng bức. Mặt khác, tước quốc tịch là một chế tài chỉ áp dụng đối với những người có quốc tịch nguyên thủy nhưng cư trú ở nước ngoài hoặc những người nước ngoài đã nhập quốc tịch, chứ không áp dụng đối với những người có quốc tịch nguyên thủy mà cư trú ở trong nước.

Ngoài những điểm còn hạn chế có tính chất điển hình được nêu trên, nhiều vấn đề quan trọng khác cũng chưa được quy định trong pháp luật quốc tịch của Nhà nước ta trước kia, như vấn đề quốc tịch của con nuôi, của trẻ em khi cha mẹ có sự thay đổi quốc tịch; vấn đề quốc tịch của vợ hoặc chồng hoặc con thành niên của người nước ngoài đã được nhập quốc tịch Việt Nam...

Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, những vấn đề có tính chất hạn chế trên đã được Nhà nước ta đặt vấn đề giải quyết. Ngày 28/6/1988, tại kì họp thứ 3, Quốc hội khoá VIII đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam. Đây là đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta về quốc tịch. Với tư duy chính trị và pháp lý mới, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 đã quy định một cách khá đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về quốc tịch Việt Nam.

Sau gần 10 năm thực hiện, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 đã phát huy những hiệu quả tích cực, có tác dụng to lớn trong việc tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, hướng dẫn và động viên mọi người hưởng các quyền công dân và nâng cao ý thóc công dân, hăng hái gánh vác nghĩa vụ công dân, góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Tuy nhiên, do được ban hành vào những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, kinh nghiệm lập pháp tích lũy chưa nhiều, các quy định của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 còn mang tính chất luật khung, khái quát, chưa cụ thể và khó áp dụng trong thực tế, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Luật ban hành văn bản QUY PHẠM PHÁP LUẬT . Quá trình tổng kết thực tiễn gần 10 năm thực hiện Luật cho thấy cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, nhằm bảo đảm Luật quốc tịch Việt Nam phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 1992, tạo cơ chế đồng bộ thực hiện chặt chẽ nguyên tắc một quốc tịch, giải quyết tồn tại về hai quốc tịch do lịch sử để lại trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tăng cường quản lí nhà nước về quốc tịch và bổ sung các vấn đề mới về quốc tịch chưa được quy định. Trước những đòi hỏi như vậy, tại kì họp thứ 3, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam (ngày 20/5/1998). Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/1999.

2. Tìm hiểu luật quốc tịch Việt Nam năm 1998

a. Nguyên tắc Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam

Cùng với việc khẳng định mỗi cá nhân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền có quốc tịch (Điều 1), Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định rõ ràng, cụ thể và dứt khoát: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam” (Điều 3). Nguyên tắc một quốc tịch có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện và bảo vệ chủ quyền quốc gia, được quy định trong toàn bộ hệ thống pháp luật về quốc tịch của Nhà nước ta. Đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta về quốc tịch (Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988) mặc dù đã khẳng định nguyên tắc này nhưng các quy định vẫn còn chung chung, dẫn đến tình hạng giải thích không thống nhất nguyên tắc một quốc tịch của Luật. Đồng thời, một số quy định khác của Luật còn thiếu chặt chẽ, thể hiện sự chưa nhất quán về nguyên tắc một quốc tịch, dẫn đến tình trạng nhiều công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài có hai hoặc nhiều quốc tịch. Để khắc phục tình trạng trên và nhằm tạo ra cơ chế thực thi đầy đủ nguyên tắc một quốc tịch, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã quy định các điều kiện cụ thể nhằm ngăn ngừa và hạn chế tình trạng hai hay nhiều quốc tịch như sau:

Thứ nhất, khi quy định các điều kiện để nhập quốc tịch Việt Nam, khoản 3 Điều 20 nêu rõ: “Công dân nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam thì không còn giữ quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt do Chủ tịch nước quyết định”. Điều đó có nghĩa, về nguyên tắc, công dân nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam thì buộc phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài. Những trường hợp có tính chất hết sức đặc biệt thì chỉ khi Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho phép, người đó mới được giữ lại quốc tịch nước ngoài.

Thứ hai, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định cụ thể những trường hợp mặc nhiên mất quốc tịch Việt Nam. Đó là:

- Trường hợp ưẻ em dưới 15 tuổi (được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thi đương nhiên có quốc tịch Việt Nam) nếu tìm thấy cha mẹ đều có quốc tịch nước ngoài, cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ có quốc tịch nước ngoài thì đứa trẻ đó đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam (Điều 19).

- Trường hợp cả cha và mẹ có sự thay đổi quốc tịch do được thôi quốc tịch Việt Nam thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng cha mẹ được thay đổi theo quốc tịch của họ, tức là mặc nhiên mất quốc tịch Việt Nam (Điều 28).

b. Có quốc tịch Việt Nam

Theo Điều 14 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 thì những người có quốc tịch Việt Nam là những người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 có hiệu lực và những người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998. Trên cơ sở các quy định của Điều 14 này có thể chia thành những trường hợp cụ thể sau đây:

Thứ nhất, là những người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 có hiệu lực. Trường hợp này bao gồm tất cả những ai hiện đang là công dân Việt Nam, không phụ thuộc vào việc họ được xác định hoặc công nhận như thế nào. Còn từ ngày Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 có hiệu lực thì việc xác định ai có quốc tịch Việt Nam phải căn cứ theo các quy định của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998.

Thứ hai, là những người có quốc tịch Việt Nam do sinh ra. Việc xác định quốc tịch do sinh ra là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật về quốc tịch. Có nhiều nước xác định quốc tịch của đứa trẻ mới sinh ra theo tiêu chí huyết thống nhưng nhiều nước lại xác định theo tiêu chí nơi sinh. Điều này phụ thuộc vào lịch sử hình thành dân cư và truyền thống của từng quốc gia cụ thể. Đối với Nhà nước ta, với mục đích bảo vệ quyền lợi của trẻ em, việc xác định quốc tịch của những trẻ em sinh ra được dựa trên cơ sở kết hợp hài hoà, hợp lí cả hai tiêu chí huyết thống và nơi sinh. Sự kết hợp hai tiêu chí huyết thống và nơi sinh để xác định quốc tịch của trẻ em mới sinh ra đang trở thành xu hướng phổ biến của nhiều quốc gia. Trên cơ sở kết hợp hai tiêu chí trên, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định:

+ Trẻ em khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam (Điều 16).

+ Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Trường họp trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thoả thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng kí khai sinh cho con (Điều 17).

+ Trường hợp trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch, hoặc mẹ là người không quốc tịch còn cha không rõ là ai nhưng có nơi thường trú ở Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (Điều 18).

+ Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 19).

c. Nhập quốc tịch Việt Nam

Theo Điều 20 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998, công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam được quyền đệ đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam. Những người đệ đơn thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam nếu có đủ các điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;

- Tuân thủ hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam;

- Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam;

- Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên;

- Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.

Bình thường, một người có thể được nhập quốc tịch Việt Nam nếu đủ cả 5 điều kiện trên. Tuy nhiên, có một số đoi tượng có thể vẫn được nhập quốc tịch Việt Nam mà không nhất thiết phải có các điều kiện thứ 3,4 và 5 nêu trên. Đó là những người mà:

- Là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ của công dân Việt Nam;

- Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

- Có lợi cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đồng thời, khoản 4 Điều 20 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 cũng quy định rõ không cho nhập quốc tịch đối với những người mà việc nhập quốc tịch của họ làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

d. Trở lại quốc tịch Việt Nam

Điều 21 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định đối với những người đã mất quốc tịch Việt Nam mà có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong các trường họp sau đây:

- Xin hồi hương về Việt Nam;

- Có vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam;

- Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

- Có lợi cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng thời Điều 21 cũng nêu rõ việc trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ không được chấp nhận, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam (khoản 2).

e. Mất quốc tịch Việt Nam

Theo Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998, công dân Việt Nam mất quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp sau:

- Được thôi quốc tịch Việt Nam

Thôi quốc tịch Việt Nam là trường hợp công dân Việt Nam, do nhiều lý do khác nhau, tự nguyện xin được phép thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch của một nhà nước khác. Vi dụ: những người xây dựng gia đình với công dân nước ngoài; những người sang nước ngoài sinh sống với con cái; những người đã làm ăn, sinh sống lâu ở nước ngoài hoặc những người sống ở nước ngoài đã lâu có trăn trở lớn do không làm tròn bổn phận công dân với đất nước... Trước tình hình như vậy, để tạo điều kiện cho người Việt Nam làm ăn, sinh sống và phát triển ở nước ngoài một cách thuận lợi, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định công dân Việt Nam có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài thì có thể được thôi quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 24). Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, pháp luật quốc tịch cùa Nhà nước ta quy định cụ thể những người sau đây nếu xin thôi quốc tịch Việt Nam thì chưa được thôi:

+ Đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc một nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc công dân Việt Nam;

+ Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

+ Chưa chấp hành xong bản án, quyết định của toà án Việt Nam.

Đồng thời, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 cũng quy định cụ thể hai đối tượng không được thôi quốc tịch Việt Nam là:

+ Người xin thôi quốc tịch mà việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam (khoản 3 Điều 24);

+ Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong các lực lượng vũ hang nhân dân (khoản 4 Điều 24).

- Bị tước quốc tịch Việt Nam

Theo Điều 25 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài và người đã được nhập quốc tịch Việt Nam có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành động gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài các trường hợp cho thôi và tước quốc tịch Việt Nam quy định tại các điều 24 và 25, việc mất quốc tịch còn có thể xảy ra trong các trường họp sau đây:

+ Theo điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia hoặc kí kết (Điều 13).

+ Hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam do người đã nhập quốc tịch Việt Nam cố ý khai báo sai sự thật hoặc giả mạo giấy tờ khi xin nhập quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 26).

f. Thay đôi quôc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi

- Quốc tịch của người chưa thành niên trong trường hợp cha, mẹ có sự thay đổi về quốc tịch được Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định cụ thể như sau:

+ Khi cha mẹ có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, thôi hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng cha mẹ được thay đổi theo quốc tịch của họ (khoản 1 Điều 28);

+ Khi chỉ cha hoặc mẹ có thay đổi quốc tịch thì quốc tịch của con chưa thành niên được xác định theo sự thoả thuận bằng văn bản của cha mẹ (khoản 2 Điều 28);

+ Sự thay đổi quốc tịch của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó (khoản 3 Điều 28);

+ Trường hợp cha mẹ hoặc một trong hai người bị tước quốc tịch Việt Nam hoặc bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam thì quốc tịch của con chưa thành niên không thay đổi (Điều 29).

- Quốc tịch của con nuôi chưa thành niên được quy định tại Điều 30 với các nội dung sau:

+ Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi vẫn giữ quốc tịch Việt Nam;

+ Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi;

+ Trẻ em là người nước ngoài được cha mẹ mà một người là công dân Việt Nam, còn người kia là người nước ngoài nhận làm con nuôi thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam của cha mẹ nuôi mà không cần phải có các điều kiện quy định khi nhập quốc tịch Việt Nam;

+ Sự thay đổi quốc tịch của con nuôi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó.

g. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vẩn đề về quổc tịch

Nếu như Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 chỉ cỏ một điều (Điều 15) quy định chung về thẩm quyền của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) trong việc cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch và hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam thì Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã dành hẳn một chương (Chương V) quy định cụ thể về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước đối với các vấn đề về quốc tịch.

Điều 31 quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc ban hành các văn bản QUY PHẠM PHÁP LUẬTvề quốc tịch, giám sát tối cao việc tuân theo pháp luật về quốc tịch; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia về quốc tịch.

Điều 32 quy định thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam; hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam; kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế về quốc tịch hoặc liên quan đến quốc tịch (trừ trường họp cần trình Quốc hội quyết định).

Điều 33 quy định thẩm quyền của Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về quốc tịch Việt Nam. Điều 34 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp (là cơ quan được giao giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lí nhà nước về quốc tịch theo quy định của Điều 33) thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn về quốc tịch theo quy định của Chính phủ.

Điều 35 quy định thẩm quyền của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Điều 36 quy định thẩm quyền của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài trong việc tiếp nhận, xem xét và đề nghị giải quyết đơn xin nhập, xin ữở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam; quyết định việc cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam; xem xét, kiến nghị việc tước quốc tịch Việt Nam và hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

Thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch được quy định tại các điều 37, 38, 39, thể hiện việc thực hiện cải cách một bước rất căn bản các thủ tục hành chính trong việc giải quyết các vấn đề về quốc tịch Việt Nam. Đây là những quy định rất quan trọng của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 nhằm khắc phục tồn tại của Luật năm 1988, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong các vấn đề về quốc tịch. Thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch thể hiện tập trung ở một số điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, quy định rõ địa chỉ nộp đơn yêu cầu giải quyết các vấn đề về quốc tịch Việt Nam. Điều 37 quy định người xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam, ở trong nước thì nộp đơn tại UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi người đó cư trú; ở nước ngoài thì nộp đơn tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam.

Thứ hai, quy định rõ thời hạn giải quyết từng vụ việc cụ thể. Điều 38 quy định, thời hạn tối đa giải quyết đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam là 12 tháng, xin trở lại và xin thôi quốc tịch Việt Nam là 6 tháng; giải quyết đơn xin cấp các giấy tờ về quốc tịch là 3 tháng, kể từ ngày UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Việc quy định cụ thể thời hạn như trên nhằm nâng cao tinh thần ữách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vấn đề về quốc tịch đồng thời tạo cơ sở để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong vấn đề quốc tịch.

Thứ ba, quy định việc đăng Công báo các quyết định của Chủ tịch nước về vấn đề quốc tịch. Theo Điều 39, quyết định của Chủ tịch nước về việc cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam được đăng trên Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là hình thức phổ biến nhanh nhất, đầy đủ nhất và công khai nhất các quyết định của Chủ tịch nước về quốc tịch Việt Nam.

Luật quốc tịch Việt Nam được Quốc hội khoá X, kì họp thứ 3 thông qua ngày 20.5.1998, thay thế Luật quốc tịch năm 1988 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.1999.

Năm 1988, lần đầu tiên Nhà nước ban hành Luật quốc tịch, vấn đề đã được chính quyền nhân dân đặc biệt quan tâm. Ngay trong những ngày tháng đầu tiên, chủ tịch Hồ Chí Minh đã liên tục ban hành các văn bản: Sắc lệnh số 53/SL ngày 20.10.1945, Sắc lệnh số 73/SL ngày 07.12.1945, Điều 6 Sắc lệnh số 215/SL ngày 20.8.1948, Sắc lệnh số 51/SL ngày 14.12.1959, Nghị quyết số 1043 NQ/TVQH ngày 08.12.1971 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Đây là những văn bản pháp luật được ban hành ngay trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Sau khi thống nhất đất nước, các quy định trong các văn bản này không còn phù hợp nữa. Mặt khác, trước yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật và kịp thời điều chỉnh các quan hệ phức tạp liên quan đến quốc tịch Việt Nam, tại kì họp thứ 3, Quốc hội Khoá VIIl ngày 28.6.1988 đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam gồm 6 chương, 18 điều. Qua 10 năm thực hiện Luật quốc tịch năm 1988 có một số quy định cần được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản, đồng thời kịp thời thể chế hoá đường lối đổi mới với chủ trương mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới về các lĩnh vực kinh tế, văn hoá ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam và người Việt Nam ra nước ngoài kinh doanh, sinh sống, kết hôn... đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến các chế định quốc tịch.

Luật quốc tịch năm 1998 đã trở thành một cơ sở pháp lí quan trọng tăng cường quản lí nhà nước đối với các vấn đề liên quan đến quốc tịch, khẳng định rõ ràng chính sách của Nhà nước ta trong vấn đề bình đẳng dân tộc, bình đẳng trong việc hưởng quốc tịch, đồng thời đề cao vinh dự, ý thức trách nhiệm của công dân Việt Nam trong việc hưởng quyền và làm nghĩa vụ công dân, tăng cường sự gắn bó mọi người Việt Nam dù cư trú trong nước hay nước ngoài, Luật khẳng định: ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch Việt Nam - Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam.

Về đối tượng điều chỉnh: Luật quốc tịch điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các trường hợp được hưởng quốc tịch Việt Nam, mất quốc tịch Việt Nam, thay đổi quốc tịch Việt Nam của người chưa thành niên và của con nuôi; các quan hệ phát sinh giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyển trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc tịch Việt Nam với nhau và với người có quốc tịch Việt Nam.

Về phạm vi điều chỉnh, Luật chỉ điều chỉnh các trường hợp liên quan đến quốc tịch Việt Nam, không điều chỉnh các trường hợp mất quốc tịch nước ngoài khi người nước ngoài gia nhập quốc tịch Việt Nam.

Về cơ cấu và nội dung cơ bản Luật có 6 chương với 42 điều: Chương I - Những quy định chung: quy định về quyền đối với quốc tịch; giải thích các thuật ngữ liên quan đến quốc tịch Việt Nam; nguyên tắc một quốc tịch; quan hệ giữa Nhà nước và công dân; chính sách của Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam, hạn chế tình trạng không quốc tịch... Chương II quy định về có quốc tịch Việt Nam. Chương III quy định về trường hợp mất quốc tịch Việt Nam. Chương IV quy định về vấn đề thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi. Chương V quy định về thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch. Chương VI quy định về điều khoản thi hành. So sánh Luật quốc tịch Việt Nam với Luật quốc tịch của các nước trên thế giới cho thấy, các nước thường áp dụng một trong hai nguyên tắc là nguyên tắc huyết thống và nguyên tắc nơi sinh để giải quyết vấn để hưởng quốc tịch cho công dân nước mình. Việc vận dụng không thống nhất hai nguyên tắc này dẫn đến tình trạng trên thế giới có người mang hai quốc tịch nhưng ngược lại lại có người không mang quốc tịch một nước nào. Luật quốc tịch. Việt Nam năm 1998 đã kết hợp chặt chẽ cả hai nguyên tắc nói trên để giải quyết vấn đề hưởng quốc tịch cho mọi trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam, không để một trẻ em nào sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam rơi vào tình trạng không có quốc tịch.

3. Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

a. Sự cần thiết sửa đổi Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998

Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch. Ngoài việc sửa đổi những quy định đã trở nên bất cập của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 còn bổ sung nhiều quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc quản lí và giải quyết các việc về quốc tịch và điều chỉnh các quan hệ pháp luật về quốc tịch phát sinh trong thực tiễn của quá trình đổi mới, xây dựng đất nước. Sau gần 10 năm thực hiện, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã phát huy được vai trò của minh, là chế định pháp lý quan trọng công nhận tư cách công dân Việt Nam, tạo điều kiện cho mỗi công dân Việt Nam dù sống ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ quốc gia đều được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, góp phần tích cực làm ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 về cơ bản đã đóng vai trò tích cực trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, là nguồn cổ vũ, động viên cho kiều bào Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài, luôn hướng về Tổ quốc và luôn có nguyện vọng đóng góp trí tuệ và sức lực xây dựng Tổ quốc. Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều công dân Việt Nam đang định cư, làm ăn, sinh sống ở nước ngoài do các hoàn cảnh điều kiện khác nhau được thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, ổn định cuộc sống và có điều kiện thuận lợi hoà nhập với cộng đồng xã hội ở nước ngoài. Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và người không quốc tịch có nguyện vọng chính đáng được nhập quốc tịch Việt Nam hoặc được trở lại quốc tịch Việt Nam, đảm bảo cho họ các điều kiện thuận lợi để có thể hoà nhập cộng đồng dân cư Việt Nam. Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 cũng đã tạo ra cơ chế quản lí, phối hợp giữa Bộ Tư pháp và các bộ ngành ở trung ương và địa phương trong việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về quốc tịch, là cơ sở pháp lý quan trọng để tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quốc tịch đồng thời cũng tạo ra cơ sở pháp lý để các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, các UBND, các sở tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thụ lí, xem xét, giải quyết hoặc trình giải quyết một số lượng rất lớn hồ sơ về quốc tịch.

Bên cạnh những thành quả, kết quả tích cực, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 còn một số hạn chế, bất cập, vướng mắc cần phải kịp thời sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường hơn nữa tác dụng tích cực của Luật quốc tịch ữong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, các quyền công dân và quyền con người trong sự tương thích giữa pháp luật quốc gia và xu hướng hội nhập quốc tế.

* Nguyên tắc một quốc tịch triệt để thể hiện trong Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam ” trên thực tế không thể được đảm bảo thực hiện một cách triệt để và nhất quán. Do Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 không quy định nguyên tắc đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước ngoài nên rất nhiều công dân Việt Nam đã nhập quốc tịch các nước thừa nhận đa quốc tịch như Pháp, Mỹ, Canada, Anh, Australia mà vẫn giữ quốc tịch Việt Nam vì những nước này không bắt buộc phải thôi quốc tịch gốc. Đối với vấn đề quốc tịch trẻ em cũng khá phổ biến những trường hợp đa quốc tịch. Sự khác nhau trong việc áp dụng hai nguyên tắc xác định quốc tịch là nguyên tắc huyết thống (Jus Sanguinis) và nguyên tắc lãnh thổ (Jus Soli) dẫn đến nhiều trường hợp trẻ em có hai quốc tịch. Theo Điều 16 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 thì trẻ em khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam không kể đứa trẻ sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam. Trong khi đó Luật quốc tịch của Hoa Kỳ lại quy định bất kì trẻ em nào sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều có quyền có quốc tịch Hoa Kỳ. Như vậy có thể thấy những đứa trẻ sinh ra ở Hoa Kỳ có bố mẹ đều mang quốc tịch Việt Nam có thể vừa có quốc tịch Việt Nam và quốc tịch Hoa Kỳ. Có thể khẳng định việc quy định nguyên tắc một quốc tịch tại Điều 3 Luật quốc tịch năm 1998 nhưng không kèm theo cơ chế đăng kí giữ quốc tịch Việt Nam và cơ chế đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam đã dẫn đến thực trạng là công dân Việt Nam ở nước thừa nhận đa quốc tịch thường có hai hoặc ba quốc tịch. Thực tiễn công dân Việt Nam có hai quốc tịch và những tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ công dân giữa Việt Nam và các nước trong đó đặc biệt là vấn đề áp dụng pháp luật dân sự khi có tranh chấp hoặc áp dụng pháp luật hình sự khi công dân vi phạm pháp luật hình sự là hiện tượng ngày càng phổ biến. Trong bối cảnh hiện nay, nguyên tắc một quốc tịch triệt để như quy định trong Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã không những không đáp ứng được yêu cầu quản lí nhà nước mà còn ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập và thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thu hút người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào công cuộc xây dựng đất nước.

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã chỉ rõ: Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức; các chính sách, văn bản pháp luật chưa đồng bộ, chưa thể hiện đầy đủ chính sách đại đoàn kết dân tộc, chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam định cư ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Nghị quyết này một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là coi người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta và các nước trên thế giới.

Theo quan điểm mới, chủng ta cần có một chính sách về quốc tịch mềm dẻo hơn đối với bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh xa quê hương của họ, tạo điều kiện tốt nhất cho họ có thể đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Luật quốc tịch mới vừa công nhận tư cách công dân của những người Việt Nam đang sống trên lãnh thổ Việt Nam vừa mở rộng thêm những ngoại lệ cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn giữ được quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước sở tại đồng thời cho phép một số đối tượng hạn chế là người nước ngoài vẫn giữ được quốc tịch gốc khi nhập quốc tịch Việt Nam. Hơn nữa, để đảm bảo yêu cầu quản lí nhà nước về quốc tịch và gắn kết hơn nữa mối quan hệ giữa Việt kiều với Tổ quốc cần xây dựng chế định để cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện việc đăng kí giữ quốc tịch Việt Nam.

+ Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 chưa có quy định giải quyết quốc tịch cho cư dân không quốc tịch do không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định tại Việt Nam.

Do hoàn cảnh chiến tranh và điều kiện kinh tế khó khăn, nhiều người dân của các nước láng giềng như Campuchia, Lào đã di cư tự do, lánh nạn sang khu vực biên giới thuộc lãnh thổ Việt Nam và cư trú nhiều năm. Do thiếu các giấy tờ cần thiết về nhân thân nên họ không thể chứng minh được họ là công dân nước ngoài và nhiều năm sống trong tình trạng không quốc tịch. Đe đảm bảo quyền có quốc tịch của mọi người dân sống trên lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước ta cần có quy định giải quyết vấn đề quốc tịch cho những người đã sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta.

+ Thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch quy định trong Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 chưa cụ thể và trong các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật còn rườm rà, chưa đáp ứng được nhu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay.

Một số quy định của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998, Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam, Nghị định số 55/2000/NĐ-CP ngày 11/10/2000 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 104/1998/NĐ-CP và một số quy định của các bộ hữu quan còn phức tạp, gây khó khăn cho người muốn nhập quốc tịch Việt Nam hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam. Ví dụ, Mục III. 4 Thông tư số 2461/2001/TT-BNG quy định: “Giấy xác nhận người gốc Việt Nam có giá trị thời hạn 3 năm kể từ ngày cấp và có thể được gia hạn nhiều lần, mỗi lần không quá 3 năm Chúng ta có thể thấy rõ sự bất họp lí trong quy định này VÌ người gốc Việt Nam thì mãi mãi có gốc Việt Nam không phụ thuộc vào ý chí của người đó nhưng giấy xác nhận lại chỉ có giá trị 3 năm và buộc người đó phải gia hạn. Theo Điều 38 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 thì thời hạn giải quyết đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam không quá 12 tháng. Thời hạn này trong thời đại thông tin điện tử hiện nay được nhiều người cho là khá dài và không phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính hiện nay.

* Vấn đề công dân Việt Nam có hai hoặc nhiều quốc tịch và sự xung đột pháp luật trong lĩnh vực quốc tịch là vấn đề khá phổ biến, tuy nhiên Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 chưa có quy định thể hiện rõ chính sách giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực luật quốc tịch của Nhà nước ta.

Những lý do trên đây cho thấy việc ban hành luật mới thay thế Luật quốc tịch năm 1998 là đòi hỏi cấp bách của xã hội.

4. Nội dung cơ bản và những điểm mới của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 có 6 chương bao gồm 44 điều:

Chương I: Những quy định chung;

Chương II: Có quốc tịch Việt Nam;

Chương III: Mất quốc tịch Việt Nam;

Chương IV: Thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi;

Chương V: Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về quốc tịch;

Chương VI: Điều khoản thi hành.

So với cấu trúc của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 cũng có 6 chương tuy nhiên có tăng hơn 2 điều và Chương V có tên gọi khác với Luật năm 1998 (Thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch). Tên gọi của Chương V Luật năm 2008 thay đổi với mục đích nhấn mạnh đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các Vấn đề về quốc tịch. Phân tích toàn bộ các chương và điều của Luật quốc tịch năm 2008, chúng ta thấy luật này có những nội dung cơ bản sau đây:

+ Nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo

Có thể khẳng định rằng nguyên tắc cơ bản thể hiện trong Chương I của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 là nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo.

Nếu Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 có tên gọi là “nguyên tắc một quốc tịch” và Điều này quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận Công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam ” thì “nguyên tắc quốc tịch” là tên gọi của Điều 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008. Nguyên tắc quốc tịch được xác định lại ữong Luật năm 2008 là: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác Như vậy có thể thấy Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 được xây dựng trên nguyên tắc một quốc tịch triệt để còn Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 được xây dựng trên nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo.

Nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo thể hiện ở chỗ một mặt Luật xác định ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch Việt Nam, mỗi thành viên của các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam, Nhà nước thừa nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, tuy nhiên Nhà nước cũng thừa nhận tình trạng một số người có hai hoặc nhiều quốc tịch (Dual or Plural Nationality).

Do công nhận thực hạng một số công dân có hai hoặc nhiều quốc tịch nên Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã bổ sung một điều quy định về việc giải quyết vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Theo quy định tại Điều 12, vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được giải quyết theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trường hợp chưa có điều ước quốc tế thi được giải quyết theo tập quán và thông lệ quốc tế. Điều 12 cũng xác định nhiệm vụ của Chính phủ là kí kết hoặc đề xuất việc kí kết, quyết định gia nhập điều ước quốc tế để giải quyết vấn đề phát sinh từ tình trạng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Đe giải quyết các xung đột pháp luật trong lĩnh vực quốc tịch, nhiều quốc gia đã kí kết một số điều ước quốc tế đa phương về vấn đề quốc tịch như Công ước La Haye năm 1930 về một số vấn đề liên quan tới xung đột quốc tịch, Công ước năm 1963 về việc giảm các trường hợp nhiều quốc tịch và về nghĩa vụ quân sự trong trường hợp nhiều quốc tịch, Công ước châu Âu năm 1997 về quốc tịch. Trong trường hợp nhiều quốc tịch, Công ước La Haye năm 1930 đã xác định nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu. Điều 5 của Công ước La Haye quy định: “Tại một nước thứ ba, một người có nhiều quốc tịch sẽ được coi như chỉ có một quốc tịch. Nước thứ ba sẽ chỉ công nhận duy nhất một trong sổ những quốc tịch mà người đỏ có hoặc công nhận quốc tịch của nước mà người đó thường trú và cư trú chủ yếu hoặc quổc tịch của nước mà lúc đó trên thực tế người đó có mối quan hệ gắn bó nhất. ” Nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu được ghi nhận trong công ước La Haye năm 1930 có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn luật áp dụng. Mặt khác, Công ước La Haye cũng xác lập nguyên tắc bảo hộ ngoại giao đối với người có hai hoặc nhiều quốc tịch. Theo Điều 4 Công ước này, một quốc gia không được bảo hộ ngoại giao cho công dân nhà nước mình tại quốc gia khác mà người này cũng có quốc tịch và hiện đang cư trú. Ví dụ, công dân Pháp đồng thời có quốc tịch Hoa Kỳ sẽ không có được sự bảo hộ ngoại giao của nhà nước Pháp nếu công dân này cư trú ở Hoa Kỳ. Theo nguyên tắc này công dân Pháp đã nhập quốc tịch Hoa Kỳ và sinh sống ổn định tại Hoa Kỳ sẽ phải thực hiện tất cả các nghĩa vụ của công dân Hoa Kỳ trong đó có cả nghĩa vụ quân sự.

+ Về chính sách quốc tịch cho những người đã sống ổn định trên lãnh thổ Việt Nam

Nếu như Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 chưa có quy định giải quyết quốc tịch cho cư dân không quốc tịch không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định tại Việt Nam thì Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã giải quyết vấn đề này bằng quy định tại Điều 22: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhăn thân, nhưng đã cư trú ốn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định

+ Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã luật hoá một số quy định về thủ tục, trình tự giải quyết các việc về quốc tịch trước đây thể hiện trong các văn bản dưới luật, qua đó làm cho Luật này có nhiều quy định về thủ tục cụ thể hon Luật năm 1998. Ví dụ: Điều 8 (quy định về hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam) Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã được luật hoá và thể hiện trong Điều 20 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008; Điều 20 (Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam) Nghị định nói trên cũng được luật hoá và thể hiện trong Điều 28 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.

+ Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 thể hiện sự cải cách thủ tục hành chính làm cho các thủ tục nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch Việt Nam đơn giản hơn và rút ngắn hơn thời gian chờ đợi cho người làm thủ tục.

Theo quy định tại Điều 21 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 về trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam, người xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ cho sở tư pháp nơi cư trú. Trong thời hạn 5 ngày (trước đây là 7 ngày) kể từ ngày nhận đủ hồ sơ họp lệ, sở tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam; trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của sở tư pháp, cơ quan công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh nhân thân của người xin nhập quốc tịch và gửi kết quả đến sở tư pháp (thời gian này theo Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 là 60 ngày). Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, sở tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình chủ tịch UBND cấp tỉnh. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của sở tư pháp, chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. Như vậy, tổng số thời gian giải quyết các thủ tục nhập quốc tịch tại cấp tỉnh là 55 ngày, trong khi đó theo khoản 1 Điều 10 Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 thời gian này là 4 tháng.

+ Giữ quốc tịch Việt Nam

Một điểm mới nữa quy định tại Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 là quy định về giữ quốc tịch Việt Nam. Khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng kỉ với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đăng kí giữ quốc tịch Việt Nam

+ Cũng như Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, 1998, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã kết hợp nhuần nhuyễn hai nguyên tắc huyết thống (Jus Sanguinis) và lãnh thổ (Jus Soli) trong việc xác định quốc tịch trẻ em.

5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2014

Năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã kí Lệnh số 10/2014/L-CTN ngày 26/6/2014 công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam. Luật này đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 13 của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 bằng các quy định sau đây:

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam cho đến trước ngày Luật này có hiệu lực (ngày 26/6/2014) thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam;

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam thì đăng kí với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp hộ chiếu Việt Nam;

- Việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam không đăng kí giữ quốc tịch Việt Nam với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài không phải là căn cứ xác định bị mất quốc tịch Việt Nam.

Với các quy định trên đây, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2014 đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quốc tịch Việt Nam, khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước, đảm bảo cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)