1. Mới sinh con nếu ly hôn ai sẽ là người được chăm sóc con ?

Thưa luật sư, xin hỏi: hiện tại con em mới sinh được 02 tháng tuổi. Bây giờ, hai vợ chồng em thuận tình ly hôn mà sau khi ly hôn ai sẽ là người được chăm sóc con ạ? Hiện tại hai vợ chồng em không ai có việc làm. Về tài sản thì trước đây em có đi làm và có để được một ít tiền tiết kiệm, còn chồng em thì em không rõ lắm là có tiền tiết kiệm hay không ? Nhưng chồng em có 2 chiếc xe máy đăng ký tên chồng em ?
Xin luật sư hướng dẫn và tư vấn giúp em vấn đề này, em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, hai vợ chồng bạn thuận tình ly hôn mà hiện tại hai vợ chồng bạn đều không có việc làm. Về tài sản thì trước đây bạn có đi làm và có để được một ít tiền tiết kiệm, còn chồng bạn thì bạn không rõ là có tiền tiết kiệm hay không, nhưng chồng bạn có hai chiếc xe máy đứng tên chồng bạn.

Do đó, việc ai sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp sau:

Một là, vì như thông tin bạn cung cấp, cả hai vợ chồng bạn đều thuận tình ly hôn, nên nếu vợ chồng bạn đã tự thỏa thuận được với nhau về vấn đề ai sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn để đảm bảo lợi ích tốt nhất về mọi mặt cho con, lúc này, căn cứ vào nhu cầu thiết yếu cũng như căn cứ vào lợi ích chính đáng, tốt nhất về mọi mặt cho con của bạn thì Tòa án có thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của hai vợ chồng bạn và sẽ giao con cho người bố hoặc mẹ như yêu cầu của hai bạn để con bạn sẽ có được một cuộc sống tốt nhất sau khi hai vợ chồng bạn ly hôn.

Hai là, cả hai vợ chồng bạn đều muốn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn. Lúc này, sẽ căn cứ vào độ tuổi của con: Con từ đủ 07 tuổi trở lên sẽ xem xét nguyện vọng của con; con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao cho người mẹ trực tiếp nuôi; con ở độ tuổi từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi thì cả hai vợ chồng đều có quyền ngang nhau trong việc giành quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Như vậy, trong trường hợp của hai vợ chồng bạn, con của hai bạn hiện nay mới được 02 tháng tuổi. Chính vì vậy, sau khi ly hôn, bạn sẽ là người được Tòa án ưu tiên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn vì con bạn còn rất bé mới được 02 tháng tuổi (đang dưới 36 tháng tuổi). Tuy nhiên, bạn cần phải chứng minh được mình có đủ điều kiện, đủ khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như: bạn có công việc ổn định, mức lương ổn định hoặc bạn có một khối tài sản ổn định như nhà đất, sổ tiết kiệm, xe máy, ô tô,... hoặc bạn có thể chứng minh được bố mẹ ruột của bạn hoặc anh chị em ruột của bạn có đủ khả năng, đủ điều kiện để có thể chăm sóc cho hai mẹ con bạn điều kiện tối thiểu trong cuộc sống. Hiện nay bạn chưa có việc làm, nên muốn chắc chắn giành được quyền nuôi con thì bạn có thể sẽ phải tìm được một việc làm, một công việc với mức lương ổn định để có thể chăm sóc cho con bạn. Đồng thời, bạn chứng minh được chồng bạn không có đủ điều kiện, đủ khả năng để nuôi dưỡng, giáo dục con, sau khi ly hôn nếu chồng bạn được Tòa án giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con thì chồng bạn cũng không thể tự mình chăm sóc con được mà sẽ gửi cho ông bà nội chăm sóc cháu, bạn cũng có thể chứng minh chồng bạn có hành vi ngoại tình hoặc bạo lực gia đình (nếu có). Căn cứ vào những chứng cứ mà bạn đưa ra, Tòa án sẽ ra quyết định giao con cho người bạn hoặc chồng bạn khi người nào đáp ứng được quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất về mọi mặt cho con.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn về thủ tục xin ly hôn ?

Thưa Luật sư, em xin được tư vấn về thủ tục xin ly hôn ? Mong được Luật Minh Khuê phản hồi sớm. Xin cảm ơn !
Người gửi: Ly
Mới sinh con được 02 tháng tuổi nếu ly hôn ai sẽ là người được chăm sóc con?
Trả lời:

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Như vậy, khi tình trạng cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn thì hai bên hoặc bạn có thể đơn phương gửi đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn của mình."

a) Thủ tục ly hôn theo yêu cầu của một bên

* Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

* Vấn đề trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định về ghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

“1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

b) Hồ sơ, thủ tục ly hôn đồng thuận được quy định như sau:

* Hồ sơ ly hôn gồm:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

- Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (Theo mẫu của từng Tòa)

* Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của một trong hai bên.

* Thời gian giải quyết:

- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Điều kiện giành quyền nuôi cả hai con sau khi ly hôn ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, tô có thắc mắc muốn nhờ công ty tư vấn như sau: Tôi và chồng đều có công việc ổn định. Trong thời kỳ hôn nhân, chúng tôi có hai con một cháu 05 tuổi và một cháu 33 tháng tuổi. Do bất hòa trong cuộc sống vợ chồng, tôi và chồng ly thân từ khi mới sinh cháu thứ hai. Tôi đã mang hai con cùng về nhà mẹ ruột để nuôi dưỡng, chồng tôi thỉnh thoảng cuối tuần đón 02 con về nội chợ.
Mọi chi phí nuôi 02 con một mình tôi gánh vác. Chỉ tết chồng tôi mới cho khoảng ba đến bốn triệu tiền mua đồ tết. Nay nếu tôi muốn đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi 02 con thì có được không ?
Mong sớm nhận được tư vấn của công ty, tôi xin cảm ơn!

Làm thế nào để đủ điều kiện giành quyền nuôi cả hai con sau khi ly hôn?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân về quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom,chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như thông tin bạn cung cấp thì bạn không nói con bạn hiện nay bao nhiêu tuổi, do đó, tùy vào từng trường hợp khả năng giành quyền nuôi hai con của bạn sẽ khác nhau. Cụ thể:

Thứ nhất, nếu cả hai vợ chồng bạn cùng thỏa thuận được với nhau về việc bạn sẽ là người trực tiếp nuôi cả hai con sau khi ly hôn, đồng thời chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con của bạn hoặc thậm chí bạn có quyền từ chối nhận cấp dưỡng từ phía chồng bạn. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận của hai bạn, đây được xem là phương án tối ưu nhất khi bạn muốn giành quyền nuôi cả hai con. Nhưng bạn vẫn phải chứng minh được mình có đầy đủ điều kiện về vật chất cũng như tinh thần để có thể nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con tốt nhất.

Thứ hai, nếu hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được với nhau về ai sẽ là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì trước hết sẽ căn cứ vào độ tuổi của hai con của bạn:

Một là, nếu con bạn dưới 36 tháng tuổi thì Tòa án sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng con vì độ tuổi này cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp từ người mẹ.

Hai là, nếu con của bạn đã đủ 07 tuổi thì Tòa án sẽ căn cứ vào nguyện vọng của cháu, nếu con bạn có nguyện vọng muốn ở với ai thì Tòa án sẽ ưu tiên cho người mà cháu muốn ở cùng. Mặc dù được ưu tiên, nhưng người mà cháu muốn ở cùng cần phải chứng minh được mình có đầy đủ điều kiện về cả vật chất, lẫn tinh thần để chăm sóc các con.

Ba là, nếu các con của bạn không thuộc các trường hợp trên thì giữa bạn và chồng bạn có quyền ngang nhau trong việc giành quyền nuôi con. Lúc này, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, giữa hai vợ chồng bạn ai chứng minh được mình có đầy đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì Tòa án sẽ giao con cho người đó trực tiếp nuôi.

Như vậy, điều kiện để bạn giành quyền được nuôi cả hai con trước hết là căn cứ vào độ tuổi của các con của bạn. Tuy nhiên, dù như thế nào bạn cũng cần chứng minh được mình có thu nhập ổn định, công việc ổn định, yêu thương, chăm sóc con tốt hơn chồng, bạn còn có thể căn cứ vào việc lâu nay bạn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, chồng bạn không chăm sóc mà chỉ thỉnh thoảng mới đến thăm các cháu. Bên cạnh đó, bạn cần chứng minh được chồng bạn không có điều kiện để trực tiếp nuôi các con tốt như bạn, đồng thời bạn cũng có thể chứng minh về phía gia đình bạn bao gồm bố mẹ, anh chị em của bạn cũng có điều kiện hơn gia đình bên chồng để góp phần tạo thêm ưu thế để giành quyền nuôi cả hai con của bạn.

>> Xem thêm:  Tư vấn phân chia tài sản sau ly hôn theo quy định của pháp luật ? Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn ?

4. Làm sao giành quyền nuôi con khi ly hôn ?

Chào luật sư ah, Em năm nay 31 tuổi. Ngày hôm qua 2 vợ chồng em cãi nhau và đuổi em đi vì sống không có sự tin tưởng nhưng lại không cho em mang con theo. Nếu giờ em bỏ đi đến khi giành quyền nuôi con tại toà có ảnh hưởng gì không ?
Cảm ơn!
- Nguyễn Thị Thuận

Tư vấn về giành quyền nuôi con khi ly hôn

Tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Trong quá trình chung sống, nếu hôn nhân giữa hai vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung, nhiều mâu thuẫn....cả hai muốn chấm dứt cuộc hôn nhân không hạnh phúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Căn cứ vào Điều 51, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."
Với trường hợp trên của bạn, vợ chồng bạn xảy ra mâu thuẫn sau đó chồng bạn đuổi bạn ra khỏi nhà. Tuy nhiên trong quá trình chung sống chồng bạn có bạo hành bạn hay không? Vợ chồng có hay thường xuyên xảy ra mâu thuẫn hay không? Nếu như chưa đến mức độ quá đáng thì bạn với chồng có thể ngồi lại và nói chuyện để giải quyết mọi mâu thuẫn. Trong trường hợp không thể hàn gắn, hòa giải thì hai vợ chồng có thể lựa chọn ly hôn để chấm dứt cuộc hôn nhân không hạnh phúc.
Hơn nữa trong trường hợp này, bạn chưa nói rõ là bạn có mấy con? con mấy tuổi? có tài sản chung hay không?
Do vậy căn cứ vào những quy định của pháp luật, chúng tôi đưa ra nội dung tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật.
1. Ly hôn thuận tình:
Trong trường hợp hai vợ chồng bạn đều đồng tình ly hôn thì có thể tiến hành thủ tục ly hôn thuận tình.
Điều 55. Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Hồ sơ gồm:

- Đơn ly hôn (theo mẫu): Đơn ly hôn thuận tình phải được soạn thảo đầy đủ các nội dung mà tòa án yêu cầu.

- Bản chính Giấy đăng ký kết hôn: Giấy đăng ký kết hôn phải cung cấp bản chính, không được tẩy xóa, làm rách.

- 01 Bản sao có chứng thực Sổ hộ khẩu của hai vợ chồng;

- 01 Bản sao có chứng thực CMND/hộ chiếu của hai vợ chồng;

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ); đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao)...

- Các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật.

2. Ly hôn đơn phương:

Trong trường hợp, nếu một bên vợ hoặc chồng muốn chấm dứt cuộc hôn nhân, thì có thể tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương. Tuy nhiên phải tuân theo quy định của pháp luật về điều kiện ly hôn đơn phương như sau:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
Hồ sơ đơn phương ly hôn cần chuẩn bị như sau:
+ Đơn yêu cầu/đơn khởi kiện (Theo mẫu);

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

+ CMND và hộ khẩu;

+ Giấy khai sinh các con;

+ Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; Sổ tiết kiệm.

3. Quyền nuôi con của vợ chồng khi ly hôn:

Khi hai vợ chồng đạt được thỏa thuận trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái thì không cần yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp hai vợ chồng bất đồng trong vấn đề phân chia tài sản và con cái thì có thể yêu cầu Tòa án phân xử.

Đối với trường hợp của bạn, vì bạn không nói rõ trong nội dung câu hỏi là có mấy con, con bao nhiêu tuổi nên chúng tôi tư vấn dựa trên quy định của pháp luật chung như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Căn cứ quy định trên, nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì cần phải hỏi ý kiến và nguyện vọng của con, còn nếu con dưới 36 tháng tuổi thì được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Những nếu bạn không đủ điều kiện nuôi dưỡng thì bạn và chồng có thể thỏa thuận lại về việc ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con.
Bên cạnh đó, nếu con được Tòa án phán xử theo mẹ thì người bố có trách nhiệm chu cấp và có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Cụ thể:
Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy trong trường hợp của bạn, bạn muốn giành quyền nuôi con thì cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố và dựa trên quy định của pháp luật để Tòa án đưa ra phán quyết cuối cùng.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

5. Tư vấn về tranh chấp tàn sản khi ly hôn ?

Kính chào luật sư, tôi có một số vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn như sau: Gia đình anh chị tôi đã kết hôn hơn 20 năm, hiện tại đã có 2 con trai trên 18 tuổi. Gia đình anh chị tôi đã kết hôn hơn 20 năm, hiện tại đã có 2con trai trên 18 tuổi và chưa có việc làm. Anh tôi ngoại tình và hiện tại có ý định ly hôn đơn phương với chị tôi.

Hiện tại anh chị có nhà riêng nhưng đất là do bố chị tôi (đã mất) mua và đứng tên chị tôi, hiện tại vẫn chưa làm sổ đỏ. Ngoài giấy xác nhận quyền sử dụng đất thì không còn giấy tờ gì chứng minh đất là do bố chị tôi mua. Vậy cho hỏi theo pháp luật thì việc phân chia tài sản khi ly hôn sẽ như thế nào? Có chia đều cho cả anh chị và các con hay không? Và trách nhiệm với con cái ra sao?

Tôi xin cảm ơn mà mong sớm nhận được hồi âm vào mail.

Người gửi: Ngothephong

Tư vấn về tranh chấp tàn sản khi ly hôn ?

Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Việc phân chia tài sản khi ly hôn được thực hiện theo các nguyên tắc được quy định tại Điều 59, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, nếu vợ chồng không có thỏa thuận về việc chia tài sản thì khi ly hôn tài chung của vợ chồng sẽ chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố quy định tại Khoản 2, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình, tài sản riêng của vợ chồng vẫn thuộc sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Do đó:

- Nếu mảnh đất vợ chồng anh chị của bạn đang sống do bố của chị bạn mua trong thời kì hôn nhân cho cả hai vợ chồng thì dù đứng tên chị bạn thì mảnh đất đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng và khi ly hôn quyền sử dụng mảnh đất sẽ được chia theo quy định tại Điều 59.

- Nếu mảnh đất đó được bố của chị bạn mua cho chị bạn trước thời kì hôn nhân hoặc trong thời kì hôn nhân nhưng tuyên bố rằng đó là tài sản tặng cho riêng chio chị của bạn thì mảnh đất đó được coi là tài sản mà chị của bạn được tặng cho riêng và khi ly hôn quyền sử dụng mảnh đất vẫn thuộc về chị của bạn mà không phải chia.

- Còn ngôi nhà được xây dựng trên mảnh đất đó là do vợ chồng cùng xây dựng trong thời kì hôn nhân thì ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng và khi ly hôn sẽ được chia theo Điều 59.

2. Tài sản có chia đều cho vợ chồng và các con không ?

Trong quá trình chung sống cùng gia đình, các con có quyền ược hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình." theo quy định tại Khoản 5, Điều 70 Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, các con còn có quyền cóa tài sản riêng theo quy định tại Điều 75, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 75. Quyền có tài sản riêng của con

1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.

2. Con từ đủ 15 tuổi trở lên sống chung với cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nếu có thu nhập.

3. Con đã thành niên có nghĩa vụ đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của Luật này."

Như vậy, khi ly hôn, tài sản chung sẽ không chia đều cho tất cả vợ chồng và các con, các con chỉ có quyền hưởng tài sản tương ứng với đóng góp vào tài sản gia đình; tài sản riêng của các con thì vẫn thuộc về các con. Trong trường hợp mà bạn nêu ra, 2 con của vợ chồng anh chị bạn đã trên 18 tuổi nên khi chia tài sản sẽ tính đến công sức đóng của các con vào tài sản chung của gia đình để chia chứ không chia đều cho tất cả các thành viên trong gia đình; nếu các con có tài sản riêng thì tài sản đó thuộc về các con.

3. Trách nhiệm với con cái sau khi ly hôn: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, trách nhiệm với con cái sau khi ly hôn do vợ chồng thỏa thuận. Hơn nữa, các con của vợ chồng anh chị của bạn đều đã trên 18 tuổi (con đã thành niên) nên trách nhiệm đối với con cái của bố mẹ sau ki ly hôn hoàn toàn do sự thỏa thuận của hai bên, pháp luật không quy định quyền, nghĩa vụ cụ thể cho mỗi bên nữa. Trong trường hợp "con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình" mà vợ chồng không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các con.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?