1. Một số loại hình công ty khác
1.1 Công ty hợp vốn cố phần
Công ty hợp tư cổ phần là một loại công ty lai tạp giữa các yếu tố của công ty hợp vốn đơn giản và các yếu tố của công ty cổ phần. Vì vậy công ty này có hai loại thành viên không bình đẳng với nhau. Loại thành viên thứ nhất là thành viên góp vốn mà họ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty tói vốn đã góp vào công ty giống như thành viên góp vốn của công ty hợp vốn đơn giản, nhưng vốn góp của họ lại là cổ phần giống như việc góp vốn của các cổ đông trong công ty cổ phần. Loại thành viên thứ hai là thành viên nhận vốn mà họ có cổ phần trong công ty, nhưng lại có tư cách thương nhân và phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với các khoản nợ của công ty giống như thành viên nhận vốn của công ty hợp vốn đơn giản.
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Công ty hợp vốn cổ phần được pháp luật của các quốc gia công nhận là có tư cách pháp nhân, kể cả ở những nước không thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh hay công ty hợp vốn đơn giản. Công ty hợp vốn cổ phần rất hiếm khi được thành lập. Song có thể coi là một hình thức công ty làm phong phú thêm cho các hình thức các công ty và mở rộng thêm cho sự lựa chọn của những người muốn thành lập công ty.
Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 đã đưa ra một số nét chính về quản trị loại công ty này. Theo bộ luật này quản trị công ty hợp vốn cổ phần có một số đặc thù sau: (1) Một hay một số thành viên nhận vổh làm người quản lý do Điều lệ công ty chỉ định; (2) Hội đồng kiểm soát bao gồm ít nhất ba thành viên đều là cổ đông của công ty; (3) Đại hội đồng mỗi năm hợp một lẩn để nghe trình bày về tình hình tài chính từ những người quản lý, quyết định chia lãi, bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh quản lý, và giải quyết những vân đề vượt quá quyền hạn của người quản lý;. (4) cuộc hợp của Đại hội đồng do người quản lý hoặc kiểm soát viên triệu tập; (5) mọi cổ đông đều có quyền tham dự đại hội đổng; (6) quyết nghị của Đại hội đổng có hiệu lực nếu đa số chấp thuận; và (6) Đại hội đồng tổ chức hợp phải các đại biểu của ít nhất Vi vốn của công ty; việc triệu tập lẩn thứ hai không phụ thuộc vào tỷ lệ nếu triệu tập lần thứ nhất bâ't thành do không đủ đại biểu như đã nói trên.
1.2 Công ty dự phần
Công ty dự phần được xem là một hình thức công ty không có tư cách pháp nhân và đơn thuần là một hợp đổng giữa các thành viên của công ty với nhau. Tuy nhiên mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu mà các bên trong loại công ty này đều hướng tới. Công ty dự phần được chứng minh bằng mọi phưong tiện. Pháp luật nhiều khi không can thiệp sâu vào hình thức công ty này. Các mục tiêu cụ thể của sự liên kết, điều kiện và thể thức dự phần, sự phân chia lỗ lãi... đều theo các quy định do các bên thỏa thuận tạo nên.
Việc quy định hình thức công ty này có ý nghĩa không chỉ cho việc giải quyết các tranh chấp thực tế phát sinh từ sự liên kết như vậy, mà còn có ý nghĩa là một giải pháp giải quyết các công ty thực tế và công ty được thành lập trên thực tế. Có thế xem xét vâh để này từ một tình huống giả định sau:
Công ty NH kinh doanh trong lĩnh vực cung ứng thiết bị nông nghiệp. NH phát hiện ra một cơ hội sản xuất và bán máy cắt xén cỏ cho một số địa phuơng ở vùng sâu, vùng xa, do đó đã đến đặt hàng sản xuất thiết bị này tại một doanh nghiệp tư nhân TB. Theo đúng hợp đồng đã ký kết với TB, định kỳ NH tới cơ sở sản xuất của TB để kiểm tra tiến độ sản xuất, nhưng thường không gặp chủ doanh nghiệp TB hay đại diện của TB mà chỉ gặp và làm việc với Thích Tiến (chủ doanh nghiệp tư nhân TT). TB không thực hiện được nghĩa vụ giao hàng theo hợp đổng, tranh chấp xảy ra. Chủ doanh nghiệp TB bỏ trôn với hầu hết tài sản của mình. Số tài sản còn lại không đủ để trả nợ cho NH. Các chứng cứ cho thâỳ, TT đã thoả thuận với TB để bỏ tiền mua trang thiết bị cho TB và đã đưa cho TB một khoản tiền lớn để thực hiện dự án theo hợp đổng đã được ký kết giữa NH và TB mà không lấy lãi theo định kỳ, chi lấy một tỉ lệ nhất định trên số lợi nhuận kiêm được từ việc thực hiện dự án nói trên. NH đòi TT phải trả nợ thay cho TB. Luật sư của TT cho rằng, quan hệ giữa TB và TT chỉ là quan hệ vay nợ thông thường, và TT cũng là một chủ nợ của TB, nên TT và NH đều được lây nợ trên số tài sản còn lại của TB. Vì vậy đòi hỏi của NH đối vói TT là vô lý.
Các tình tiết trên cho thâỳ TT và TB có sự liên kết làm ăn nhất định trên cơ sở tự nguyện mà không phải là một hợp đổng vay thông thường. Do vậy tranh châ'p này chỉ có thế giải quyết được trên cơ sớ nhận thức sự liên kết trên căn bản giôhg với dạng công ty đang được nghiên cứu ở đây.
1.3 Nhóm công ty
Có hai hình thức nhóm công ty chủ yếu là tập đoàn kinh tế, và công ty mẹ - công ty con. Tuy nhiên đạo luật này không đưa ra được những điểm pháp lý chủ yếu của tập đoàn kinh tếmà dành cho Chính phủ quy định.
Tập đoàn kinh tế ngày nay có vai trò rất lớn đối với sự phát . triển kinh tếtoàn cầu và ở các nước. Nó có khả năng tập trung lớn các nguồn lực để bảo đảm những mục tiêu kinh tếnhât định. Tuy nhiên tập đoàn kinh tếchưa có một định nghĩa chung cụ thể mang tính toàn cầu. Các nước sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau (ví dụ: "conglomerate", "chaebol", "keiretsu", "business group", "cartel"...) để diễn đạt khái niệm chưa hoàn toàn thống nhất này. Như vậy trước hết ta phải hiểu về các quan hệ trong công ty mẹ - công ty con, rồi mới có thể nghiên cứu về tập đoàn.
Theo diễn tiên như vậy xác định mối quan hệ chủ yếu giữa công ty mẹ và công ty con là môì quan hệ về vốn, có nghĩa là công ty mẹ có vốn trong công ty con. Tùy từng hình thức của công ty con mà công ty mẹ có vị thế pháp lý là thành viên hay là chủ sở hữu hay là cổ đông của công ty con, nhưng có quyền kiểm soát, khôhg chê) chi phôi công ty con. Tuy nhiên công ty con là một thực thể độc lập với công ty mẹ. Do đó mọi giao dịch và các quan hệ khác giữa công ty mẹ và công ty con (trừ mối quan hệ công ty mẹ là chủ sở hữu hay thành viên hay CỔ đông trong công ty con) đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bình đẳng. Quy định khá khắc nghiệt sự vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa công ty mẹ và công ty con. Sự can thiệp của công ty mẹ ngoài thẩm quyền mà gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó. Người quản lý của công ty mẹ cũng phải liên đới chịu trách nhiệm với công ty mẹ. Nếu công ty con thực hiện theo sự can thiệp như vậy mà đem lại lợi ích cho công ty con khác của cùng một công ty mẹ thì công ty con được hưởng lợi đó phải liên đói cùng công ty mẹ hoàn trả khoản lợi được hưởng đó cho công ty con bị thiệt
Công ty mẹ có nghĩa vụ lập các báo cáo tài chính hợp nhất của nhóm công ty, báo cáo tổng hợp kết quả kinh doanh hàng năm của nhóm công ty và báo cáo tổng hợp công tác quản lý, điều hành của nhóm công ty. Công ty con có nghĩa vụ cung cấp các báo cáo, tài liệu và thông tin cần thiết để lập báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tổng hợp của nhóm công ty.
Vì vậy đặc điểm quan trọng nhất của tập đoàn kinh tế là mối liên hệ về vốn giữa các thành viên của tập đoàn. Quy mô về vốn, doanh thu, lao động và phạm vi hoạt động kinh doanh của tập đoàn rất lớn xét trên phưong diện địa lý và phương diện ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân vì đây là một sự liên kết của các công ty có tư cách pháp nhân có thể bởi hợp đồng hoặc bởi pháp luật.
Trên thế giới hiện nay có hai mô hình tập đoàn kinh tếcơ bản. Đó là: (1) Mô hình Mỹ vắ Châu Âu; và (2) mô hình Nhật Bản và Hàn Quốc. Mô hình tập đoàn kinh tế Mỹ và Châu Âu được hình thành trên cơ sở sự liên kết tự nguyện giữa các công ty bởi các nguyên nhân chủ yếu như: chính sách tín dụng với lãi suâ't thâ'p khiến các công ty có thể tiếp cận nguồn vốn để mua lại các công ty khác; nhu cầu đa dạng hóa các lĩnh vực kinh-doanh của các công ty lớn; và đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa. Trong khi đó mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản và Hàn Quốc gắn vói truyền thống gia đình của Châu Á. Các Keiretsu ở Nhật Bản và Chaebol ở Hàn Quốc được xây dựng phỏng theo mô hình truyền thống các tập đoàn mang tên Zaibatsu. Các Zaibatsu được tổ chức nên bởi các gia đình có thế lực vể chính trị, quân sự và kinh tế. Sau phát xít Nhật bị đánh bại, các Keiretsu được hình thành theo mô hình Zaibatsu đã bị tan rã vì chiên tranh. Các Chaebol của Hàn Quốc cũng được tạo lập theo mô hình của Zaibatsu để xây dựng đất nước. Do đó có thể nói yếu tố gia đình và yếu tố can thiệp của chính trị là các yếu tố đặc trưng của mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản và Hàn Quốc. Có lẽ học tập kinh nghiệm xây dựng đất nước của người Hàn và người Nhật với sự nỗ lực lớn, Việt Nam đã tổ chức nên các tổng công ty, rổi đến các tập đoàn kinh tếNhà nước.
Việc thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay phải theo trình tự bốn bước:
Bước thứ nhất: Cơ quan có thẩm quyền cho phép xây dựng đề án thành lập tập đoàn.
Bước thứ hai: Cơ quan hoặc tổ chức được giao phải tổ chức xây dựng và trình đề án.
Bước thứ ba: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và phê duyệt đề án.
Bước thứ tư: Công ty mẹ được thành lập tổ chửc thực hiện đề án.
Các tập đoàn kinh tế của Việt Nam trong những năm thử nghiệm vừa qua đã có những đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân, song cũng đã bộc lộ nhiều khiêm khuyết mà một trong số chúng có lẽ là khiếm khuyết cổ hữu của các doanh nghiệp Nhà nước. Nếu xét từ mô hình tập đoàn kinh tế Mỹ và Châu Âu, thì tập đoàn kinh tế của Việt Nam thiếu đi tính tự nguyện và yếu tố thị trường. Nhưng nêù xét từ mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản và Hàn Quốc, thì tập đoàn kinh tếcủa Việt Nam thiếu yếu tố tư nhân hay gia đình tham dự. Nói cho cùng, sự thiếu hụt lớn nhất của các tập đoàn kinh tếcủa Việt Nam là nêh tảng thị trường thực sự.
Người ta hiểu rằng doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp công là các doanh nghiệp do Nhà nước bỏ vốn thành lập để kinh doanh dưới hình thức các công ty. Ở các nước có nền kinh tế thị trường thường thành lập các doanh nghiệp nhà nước để bù đắp những khiếm khuyêl vốn có của kinh tế thị trường như sự thiếu hụt đầu tư vào những lĩnh vực hay những nơi không hoặc kém mang lại lợi nhuận, hoặc để cạnh tranh với nước ngoài, hoặc để bảo đảm sự phát triêh đồng đều giữa các vùng, miền hay các dân tộc, hoặc bảo đảm cung câp các dịch vụ có tính châ't công cộng như vận chuyển hàng không, bưu chính - viễn thông... Doanh nghiệp Nhà nước có những điểm lợi như bảo đảm cho sự phát triêh một số lĩnh vực chiến lược, lap đầy các khoảng trông doanh nghiệp, hỗ trợ cho các vùng miền, lĩnh vực yếu kém và có thể tiếp cận những nguồn tín dụng lón. Nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp nhà nước thường có hiệu quả tháp và thường là mối lo lắng lớn đè nặng lên Nhà nước bởi sự thiếu năng lực đáp ứng thị trường, bởi là nơi phát triển nạn tham nhũng, bè phái và chủ nghĩa thân hữu. Vì vậy cải cách, cải tổ hay tái câu trúc doanh nghiệp nhà nước bao giờ cũng là các trọng đề của kểhoạch hay chưong trình hành động của Nhà nưóc. Cũng như vậy các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam, bao gồm: Tập đoàn công nghiệp tầu thủy (Vinashin), Tập đoàn điện lực (EVN), Tập đoàn bưu chính - viễn thông (VNPT), Tập đoàn dầu khí (PetroVietnam), Tập đoàn than - khoáng sản (Vinacomin), Tập đoàn cao su (VRG), Tập đoàn tài chính - bảo hiểm (Bảo Việt), và Tập đoàn dệt may (Vinatex), rất cần sự nghiên cứu đổi mói về tổ chức, quản trị và vận hành.
2. Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập công ty
2.1 Tách công ty có các đặc điếm khác biệt với chia công ty:
(1) Công ty bị tách chuyển một phần sản nghiệp sang một hoặc nhiều công ty được tách; (2) Công ty hoặc các công ty được tách trở thành một hoặc một số pháp nhân mói; (3) Công ty bị tách vẫn còn tồn tại, có nghĩa là nó vẫn duy trì tư cách pháp nhân của nó. Chia công ty là trường hợp châm dứt công ty bị chia để thành lập các công ty mới trên cơ sở sản nghiệp của công ty bị chia. Sản nghiệp của công ty bị chia được san sang các công ty mới được tạo lập. Vì vậy tâ't cả các công ty bị tách, các công ty được tách phải chịu trách nhiệm liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty bị tách. Cũng với nguyên lý này các công ty mới thành lập từ công ty bị chia phải chịu trách nhiệm liên đới về các khoản nợ của công ty bị chia.
Sáp nhập công ty có một số đặc điểm khác với hợp nhất công ty: (1) Một hay nhiều công ty sáp nhập vào một công ty bằng cách mang tất cả sản nghiệp của mình nhập vào sản nghiệp của công ty nhận sáp nhập; (2) Công ty nhận sáp nhập vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình; (3) Các công ty sáp nhập chấm dứt hoạt động hay xoá bỏ tư cách pháp nhân. Đối với trường hợp hợp nhất công ty, tất cả các công ty đều chấm dứt tư cách pháp nhân của mình để thành lập một pháp nhân mới bằng cách mang tất cả sản nghiệp của mình góp vào pháp nhân mới này. Công ty nhận sáp nhập phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ của các công ty bị sáp nhập vì các công ty này đã mang cả sản nghiệp của mình nhập vào công ty nhận sáp nhập. Nguyên lý này cũng áp dụng cho công ty được thành lập mới do hợp nhất.
Tuy nhiên việc sáp nhập và hợp nhất công ty phải chú ý tới các điều câm của Luật. Nếu công ty nhận sáp nhập, công ty hợp nhất có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ khi pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Việc sáp nhập hay hợp nhất mà tạo ra công ty có thị phần trên 50% thị trường có liên quan đều bị cấm, trừ khi có quy định khác của pháp luật cạnh tranh
2.2 Chuyên đổi hình thức công ty
Cuộc sống đặt ra muôn vàn trường hợp dẫn tới sự thay đổi hình thức công ty. Các nhu cầu thay đổi có thể được phân chia tương đối thành hai loại: (1) Các nhu cầu đáp ứng thực tiễn kinh doanh, và (2) Các nhu cầu đáp ứng các yêu cầu của pháp luật. Tuy nhiên, các nhu cầu đáp ứng các yêu cẩu của pháp luật không thuần khiết mà có sự ảnh hưởng rõ rệt của việc đáp ứng thực tiễn kinh doanh. Chẳng hạn một công ty hợp danh, sau khi một thành viên qua đời để lại di sản cho người thừa kế chưa thành niên, không có năng lực kinh doanh, có thế phải chuyển đổi thành công ty hợp vốn đơn giản hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn , về mặt pháp lý có thế nhận thấy, người chưa thành niên không thể trở thành thương nhân, trong khi pháp luật định dạng rằng các thành viên của công ty hợp danh có tư cách thương nhân, và chịu trách nhiệm cá nhân, liên đói và vô hạn đối với các khoản nợ của công ty. Các thành viên của công ty hợp danh tin tưởng lẫn nhau và nhắm tới nhân thân của nhau, do đó khi một thành viên qua đời hay không còn hội đủ các điều kiện để trở thành thương nhân nữa, thì thông thường, về nguyên tắc, công ty hợp danh đó bị giải thể. Tuy nhiên, ngày nay giải pháp linh động hơn, theo sự thoả thuận đã được dự liệu trước, công ty vẫn có thể được duy trì. Nhưng nếu rơi vào trường hợp được ví dụ ở trên, thì trước hết, nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh doanh, công ty phải chuyển đổi hình thức thành công ty hợp vốn đơn giản để người thừa kế gia sản của cố thành viên trở thành thành viên góp vốn, hoặc chuyển đổi hình thức công ty thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
Dự liệu về các trường hợp tương tự, Bộ luật Thương mại Nhật Bản quy định: "Với sự đồng ý của tất cả các thành viên, một công ty hợp danh có thể trở thành một công ty hợp vốn đơn giản hoặc bằng cách chuyển một thành viên cụ thế thành một thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn hoặc bằng cách tiếp nhận một thành viên mới có trách nhiệm hữu hạn". Bộ luật này còn dự liệu rằng, trong trường hợp các thành viên của một công ty hợp danh xin rút mà công ty chỉ còn lại một thành viên, nếu muốn duy trì hoạt động phải kết nạp thêm thành viên mới và nếu thành viên mới chỉ là thành viên có trách nhiệm hữu hạn, thì công ty phải chuyển đối hình thức thành công ty hợp vốn đơn giản hoặc hình thức công ty có trách nhiệm hữu hạn
Bởi công ty là một hợp đồng được xác lập trên cơ sở của tự do ý chí, nên việc chuyển đổi hình thức công ty được tự do từ bất kể hình thức này sang bất kể hình thức nào khác. Và nếu pháp luật muốn hạn chế hay ngăn cản thì phải tìm được lý do chính đáng từ phía lợi ích chung của xã hội. Vì thế việc hạn chế chỉ đặt ra đối với việc chuyển đổi từ công ty với tính cách là một thương hội sang một hội không nhằm mục đích kiếm lời, và ngược lại, bởi việc chuyển đổi như vậy thực chất là việc tạo lập ra một pháp nhân mới, hay thay đổi bản chất của hội. cần lưu ý rằng việc chuyển đổi từ hình thức công ty thương mại này sang hình thức công ty thương mại khác không tạo ra pháp nhân mới mà chỉ là thay đổi về hình thức.
Pháp luật Malaysia và Singapore quy định:
"Một công ty có trách nhiệm vô hạn muốn chuyển đổi thành một công ty có trách nhiệm hữu hạn và ngược lại thì phải sửa đổi hợp đổng thành lập công ty theo các điểu kiện sau:
Thứ nhất, công ty phải thông qua một nghị quyết đặc biệt về việc sửa đổi hợp đổng thành công ty để đảm bảo rằng hợp đồng đáp ứng các yêu cầu liên quan tới hợp đồng của loại hình công ty là mục tiêu của việc chuyển đổi.
Thứ hai, công ty phải sửa đổi Điều lệ công ty (nêù điều lệ đã đăng ký) phù hợp với các yêu cầu của pháp luật liên quan tới loại hình công ty là mục tiêu của việc chuyển đổi.
Thứ ba, nếu việc chuyển đổi từ một công ty có trách nhiệm hữu hạn sang một công ty có trách nhiệm vô hạn thì phải tuân thủ thêm các điều kiện là trình nhà chức trách đăng ký công ty một số tài liệu chứng minh sự nhất trí của các thành viên về việc chuyển đổi hình thức công ty và tuyên bô' của từng thành viên mong muốn trở thành thành viên của công ty có trách nhiệm vô hạn" .
Việc chuyển đổi hình thức công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn sang hình thức công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn không ảnh hưởng đến các chủ nợ. Nhưng nếu chuyển đổi ngược lại thì có thế gây ảnh hưởng tới chủ nợ. Nguyên lý cơ bản có thể áp dụng trong trường hợp này là các thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm theo chế độ cũ như trước khi chuyển đổi đối với các khoản nợ phát sinh trong giai đoạn trước đó.