1. Khái quát chung

"...Trong các doanh nghiệp, vai trò của pháp luật vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Điều này cũng dễ hiểu. Doanh nhân có nhiều vấn đề phải quan tâm: tiền lương cho nhân viên hằng tháng, lãi suất ngân hàng, nợ đến hạn, đơn hàng V.V.. Làm doanh nhân không sướng chút nào! Giải quyết những vấn đề nhức đầu như vậy, doanh nhân làm gì còn thời gian để quan tâm đến chuyện pháp luật nước nhà. Đó là chuyện tưởng như chỉ của các luật sư và các vị đại biểu Quốc hội.
Trong quá trình kinh doanh, doanh nhân có nhiều mối quan hệ. Quan hệ với đối tác, quan hệ với khách hàng và quan hệ với Nhà nước. Tuy vậy, có sự khác nhau trong hai nhóm quan hệ này. Đối tác, khách hàng là những người làm ăn với doanh nhân. Do vậy, vị thế của doanh nhân là bình đẳng. Cũng từ đó, cách hành xử của doanh nhân sẽ là cách hành xử của những người bình đẳng với nhau. Nhưng trong mối quan hệ giữa doanh nhân và Nhà nước thì không phải như vậy. Sự khác biệt này xuất phát từ tính quyền lực và chức • năng quản lý của Nhà nước. Doanh nhân làm ăn kinh doanh phải trong khuôn khổ pháp luật nên phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Vị thế các bên cũng trở nên khác biệt, không còn là vị thế bình đẳng như trong quan hệ giữa doanh nhân với đối tác/khách hàng.
Một số đặc điểm chính trong hoạt động chia và tách doanh nghiệp?
>> Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Dường như mối quan hệ giữa doanh nhân và Nhà nước là mối quan hệ “bất bình đẳng”! Trong tương quan bất bình đẳng, doanh nhân càng trở nên “chông chênh”. Nhiều trường hợp doanh nhân nhận ra vấn đề ấy nhưng không biết phải xừ lý từ đâu. Cũng như mọi mối quan hệ khác trong xã hội, mối quan hệ giữa doanh nhân và Nhà nước cũng có sự va chạm. Chuyện không hài lòng về nhau là bình thường. Công chức thực thi quyền hành mà pháp luật trao cho. Nhưng công chức cũng có khi hành xử sai, vì công chức cũng là con người, cũng vẫn có thể mắc sai lầm. Cuộc sống vốn dĩ thế! Nhưng với cái vị thế “chông chênh”, cách hành xử của doanh nhân khi không hài lòng về các quyết định của Nhà nước thì lại khá tiêu cực. Doanh nhân thường hay than thở với nhau, kêu oan với báo chí. Thậm chí, làm đơn xin được...ở tù(!)
Để quyền lợi đó được bảo đảm, Nhà nước dành cho người dân quyền được “phản bác” các quyết định của Nhà nước. Đó là quyền được khiếu nại hoặc khiếu kiện ra Tòa án có thẩm quyền xét xử. Trong một xã hội dân chủ, vân đề khiếu nại của người dân đối với Nhà nước không còn là đặc quyền Nhà nước dành cho người dân mà đã ưở thành sức ép đối với Nhà nước trong mối quan hệ với công dân.
Muốn vậy, việc khiếu nại phải trên cơ sở của pháp luật. Nói cách khác, khiếu nại phải được gửi đến Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, dường như ít khi doanh nhấn thực hiện quyền này. Việc gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan truyền thông vẫn là xu hướng phổ biến. Trong vô vàn lo toan của cuộc sống, các nhà quản lý ít khi quan tâm đến các bài báo phản ánh các đơn khiếu nại kiểu này. Vì doanh nhân có khiếu nại gì đối với các quyết định của Nhà nước đâu mà xem xét lại!
Như vậy, pháp luật trở thành chỗ dựa cho doanh nhân trong mối quan hệ tương đối “chông chênh”. Pháp luật về khiếu nại và khiếu kiện không chỉ có tác dụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nhân mà hơn thế, cùng với Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước , nó trở thành sức ép cần thiết lên hoạt động của công chức trong quá trình thực thi pháp luật. Một doanh nghiệp khiếu kiện một Chi cục Thuế tại Thành phố Hồ Chí Minh và đã thắng kiện là một minh chứng sinh động. Do vậy, doanh nhân làm tốt điều này chính là góp phần cho quá trình xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật và bình đẳng.
Nhưng để doanh nhân tin và sử dụng quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện một cách hữu hiệu, rất cần đến vai trò bảo đảm của Nhà nước trong việc thực thi pháp luật về khiếu nại hoặc khiếu kiện. Một giáo sư luật đã từng nói: một đất nước thiếu luật không đáng sợ bằng một đất nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ mà không thực thi được. Vì mọi đạo luật tự thân chi là những con chữ vô nghĩa trên các trang giấy nếu nó không đi vào cuộc sống sôi động.
(Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Doanh nghiệp hiểu luật thế nào? Báo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 11-2-2013.)"
Trong quá trình kinh doanh không phải lúc nào doanh nghiệp cũng muốn mở rộng quy mô hoạt động, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà đôi khi nhà đầu tư phải quyết định tổ chức lại cơ sở kinh doanh của mình theo hướng “chẻ doanh nghiệp” thành nhiều phần khác nhau. Ví dụ: một doanh nghiệp kinh doanh hai lĩnh vực là thức ăn và nước giải khát, mảng nước giải khát gặp nhiều thuận lợi và thu được nhiều lợi nhuận, trong khi đó, mảng thức ăn thường xuyên thua lỗ và mất thị phần, nếu tiếp tục duy trì song song hai ngành, nghề này có thể làm tổng doanh thu của doanh nghiệp bị suy giảm. Trước bối cảnh ấy, tất yếu nhà đầu tư phải cân nhắc thay đổi chiến lược kinh doanh của mình, một trong số các phương án đó là chia hoặc tách cơ sở kinh doanh để mỗi doanh nghiệp đảm nhận một ngành, nghề nhất định, khi này doanh nghiệp kinh doanh thức ăn có điều kiện để chuyên môn hóa và giải quyết bài toán thua lỗ, còn doanh nghiệp kinh doanh nước giải khát thì có thêm điều kiện tiếp tục phát triển.
Nhìn chung, chia và tách doanh nghiệp đều là các hoạt động nhằm “chẻ doanh nghiệp” thành nhiều phần khác nhau với quy mô nhỏ hơn so với doanh nghiệp ban đầu. vấn đề đặt ra là nhà đầu tư sẽ lựa chọn chia hay tách doanh nghiệp? Muốn trả lời câu hỏi này cần xem xét đến mong muốn của nhà đầu tư về tính kế thừa của các doanh nghiệp sau khi chia và tách.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể chia các cổ đông, thành viên và tài sản công ty để thành lập hai hoặc nhiều công ty mới. Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì tách doanh nghiệp là việc chuyển một phần tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hiện có để thành lập mới một hoặc một số công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

2. Đặc điểm:

2.1 Về chủ thể áp dụng:

Việc chia và tách doanh nghiệp được áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Luật doanh nghiệp năm 2020 không quy định việc công ty được hình thành từ hoạt động chia và tách doanh nghiệp phải là công ty cùng loại với công ty bị chia hoặc công ty bị tách. Cụ thể: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể được chia thành một số công ty cùng loại”. Cụm từ “công ty cùng loại” ở đây được một số nhà khoa học cho rằng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn cùng loại hình pháp lý, cùng ngành, nghề kinh doanh... Tuy nhiên, “cùng loại” được đề cập ở đây là cùng loại hình pháp lý. Điều này có nghĩa là một công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chia thành một số công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc một công ty cổ phần có thể phân chia thành một số công ty cổ phần, chứ một công ty trách nhiệm hữu hạn thì không thể phân chia thành một số công ty cổ phần và ngược lại. Thực tế này đã phần nào hạn chế quyền tự kinh doanh của các doanh nghiệp. Vậy nên, quy định về chia và tách doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp được chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần và ngược lại, qua đó, góp phần đáp ứng nguyện vọng của nhà đàu tư và giàn tiện thù tục hành chính cho họ .

2.2 Về hệ quả của hoạt động chia hoặc tách doanh nghiệp:

Đối với việc chia doanh nghiệp: theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia hoặc thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao động để một trong số các công ty đó thực hiện các nghĩa vụ này.
Đối với việc tách doanh nghiệp: theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thỏa thuận khác.
Trong quá trình hoạt động, công ty có thể có nhũng khoản nợ chưa thanh toán đối với một số tổ chức, cá nhân, đây là các nghĩa vụ mà công ty có trách nhiệm thực hiện bằng tất cả tài sản của mình. Do đó, các doanh nghiệp được hình thành sau hoạt động chia và tách phải cùng nhau có trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ của doanh nghiệp bị chia và doanh nghiệp bị tách. Theo khoản 1 Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015 thì nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Do đó, chủ nợ của doanh nghiệp bị chia và doanh nghiệp bị tách có quyền yêu cầu bất cứ doanh nghiệp nào trong số các doanh nghiệp được hình thành sau hoạt động chia và tách phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Đây là cơ chế góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị chia hoặc công ty bị tách.
Cả hoạt động chia và tách doanh nghiệp đều dẫn đến hệ quả làm tăng số lượng các doanh nghiệp trên thị trường. Điểm khác biệt cơ bản ở chỗ, nếu như việc chia doanh nghiệp thì công ty bị chia chấm dứt sự tồn tại đồng thời cho ra đời các công ty mới, còn việc tách doanh nghiệp thì công ty bị tách vẫn tồn tại về mặt pháp lý.

2.3 Các phương thức thực hiện:

2.3.1 Đổi với hoạt động chia công ty:

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020 thì việc chia công ty có thể được thực hiện bằng một trong các phương thức sau:
(i) Một phần phần vốn góp, cổ phần của các thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị phần vốn góp, cổ phần được chia sang cho các công ty mới theo tỷ lệ sở hữu trong công ty bị chia và tương ứng giá trị tài sản được chuyển cho công ty mới.
(ii) Toàn bộ phần vốn góp, cổ phần của một hoặc một số thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị cổ phần, phần vốn góp họ được chuyển sang cho các công ty mới.
(iii) Kết hợp cả hai trường hợp trên.

2.3.2 Đối với hoạt động tách công ty:

Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì việc tách công ty có thể được thực hiện theo một trong cách dưới đây:
(i) Một phần phần vốn góp, cổ phần của các thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị phần vốn gỗp, cổ phần được chuyển sang cho các công ty mới theo tỷ lệ sở hữu trong
công ty bị tách và tương ứng giá tri tài sản được chuyển cho công ty mới;
(ii) Toàn bộ phần vốn góp, cổ phần của một hoặc một số thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị cổ phần, phần vốn góp của họ được chuyển sang cho các công ty mới;
(iii) Kết hợp cả hai trường hợp trên.
Luật doanh nghiệp năm 2020 đã làm rõ vấn đề này thông qua việc chi tiết hóa các cách để doanh nghiệp tiến hành chia và tách công ty.

2.3.3 Thù tục thực hiện

Tổ chức lại công ty là hoạt động quan trọng ảnh hưởng đến vận mệnh của doanh nghiệp, cho nên việc đưa ra quyết định tỗ chức lại doanh nghiệp sẽ do cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần quyết định. Quyết định này phải được gửi đến tất cả các chủ nợ, người lao động biết theo quy định pháp luât. về trình tự, thủ tục cụ thể được quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê