Mục lục bài viết
- 1. Khái quát
- 2. Đặc điểm thông tin ban đầu về tội phạm tham ô tài sản
- 3. Đặc điểm về địa bàn, lĩnh vực xảy ra tội phạm tham ô tài sản
- 4. Đặc điểm về đối tượng phạm tội
- 5. Thành phần, đặc điểm tâm lý đối tượng
- 6. Đặc điểm về thủ đoạn phạm tội và che giấu tội phạm
- 7. Đặc điểm về tài sản bị chiếm đoạt của tội phạm tham ô
- 8. Đặc điểm về quan hệ giữa tội phạm tham ô tài sản và các tội phạm khác
1. Khái quát
Đặc điểm hình sự tội phạm là sự phản ánh của hệ thống những đặc tính, dấu hiệu của những vụ tội phạm trong hiện thực khách quan. Từ đó cho thấy đặc điểm hình sự của tội phạm là một tập hợp thông tin về hệ thống các đặc điểm, dấu hiệu của một loại tội phạm hoặc một nhóm tội phạm cụ thể được hình thành trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn điều tra, đóng vai trò là cơ sở đưa ra những chỉ dẫn tối ưu hoá quá trình thực hiện mục đích điều tra khám phá tội phạm.
Cấu trúc đặc điểm hình sự của tội phạm bao gồm những thông tin về các vấn đề sau: Dấu vết vật chất của vụ án, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm, thời gian và địa điểm xảy ra vụ án, diễn biến của quá trình gây án, hoàn cảnh điều kiện xảy ra vụ án, đối tượng bị xâm hại, mục đích và động cơ gây án, phẩm chất cá nhân của người phạm tội, của người bị hại và những hoàn cảnh tạo thuận lợi cho tội phạm.
2. Đặc điểm thông tin ban đầu về tội phạm tham ô tài sản
Để xác định có vụ việc phạm tội xảy ra có căn cứ tiến hành tổ chức hoạt động điều tra, cơ quan điều tra phải có những thông tin cụ thể về vụ phạm tội. Những thông tin ban đầu đến với cơ quan điều tra từ nhiều nguồn khác nhau và dưới những hình thức khác nhau.
Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước:Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú”.
Những cơ sở nêu trong điều luật có tính chất quy định chung làm căn cứ để khởi tố vụ án đối với các loại tội phạm. Song đi sâu nghiên cứu bản chất của các cơ sở đó, trên cơ sở các tài liệu thực tiễn của hoạt động điều tra tội phạm thì mỗi loại tội phạm hoặc nhóm tội phạm cụ thể sẽ có những đặc tính riêng về nguồn thông tin ban đầu đối với loại tội phạm hoặc nhóm tội phạm cụ thể ấy.
Theo số liệu thống kê tổng hợp nhiều năm của Cơ quan CSĐT, Cơ quan CSKT và kết quả nghiên cứu của một số đề tài khoa học về tội phạm và hoạt động điều tra tội phạm cho thấy các nguồn thông tin ban đầu về các vụ phạm tội kinh tế nói chung, trong đó có các vụ phạm tội tham ô tài sản được tiếp nhận từ các nguồn sau:
- Tố giác của cá nhân.
- Tin báo về tội phạm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong đó có các phương tiện thông tin đại chúng.
- Kết quả hoạt động nghiệp vụ trinh sát
- Kết quả thanh tra của các cơ quan chức năng và hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát.
- Người phạm tội tự thú.
- Người phạm tội bị bắt quả tang.
- Kết quả khai thác từ các vụ án khác.
Tóm lại thông tin ban đầu về vụ tham ô tài sản thường rất đa dạng phong phú và đòi hỏi phải phân tích đánh giá sâu.
3. Đặc điểm về địa bàn, lĩnh vực xảy ra tội phạm tham ô tài sản
Căn cứ số liệu thống kê của các cơ quan chức năng và các thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng thì thấy rằng: tham ô xảy ra ở tất cả các địa bàn, các lĩnh vực, các địa phương trong toàn quốc, song tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế, các tỉnh có nền kinh tế phát triển. Những khu vực này được gọi là các địa bàn trọng điểm về kinh tế, đồng thời cũng là những địa bàn trọng điểm về hoạt động của tội phạm kinh tế. Ở các địa bàn này tập trung nhiều cơ quan nhà nước, nhiều doanh nghiệp lớn của Nhà nước cũng như của các thành phần kinh tế khác... Trong đó tham ô tài sản chủ yếu xảy ra ở các doanh nghiệp nhà nước.
Hầu hết các vụ án tham ô lớn được phát hiện trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây đều xảy ra ở các địa bàn trọng điểm về kinh tế hoặc có liên quan đến các địa bàn này. Một vụ án tham ô không còn chỉ xảy ra trong một phạm vi hẹp là một cơ quan, một doanh nghiệp như trước đây. Nhiều vụ án tham ô liên quan đến nhiều cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, nhiều cấp từ Trung ương đến cơ sở. Đặc biệt đã có cả yếu tố nước ngoài trong một số vụ án tham ô được phát hiện trong thời gian gầy đây.
Có những cơ quan, tổ chức trước đây rất ít xảy ra tham ô như lực lượng vũ trang, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan thuộc tổ chức Đảng... nhưng thời gian gần đây tham ô đã xảy ra ở đây, có nơi, có lúc rất nghiêm trọng.
Ở các ngành, các lĩnh vực trong xã hội đều có tham ô xảy ra, nhưng tập trung chủ yếu ở các ngành, các lĩnh vực trọng điểm tập trung nhiều tài sản, tiền bạc của nhà nước như Tài chính, Ngân hàng, Kho bạc, Thương mại, Đầu tư xây dựng cơ bản, Quản lý nhà đất, Bảo hiểm,Y tế, Giáo dục, Dự trữ quốc gia, Giao thông-Vận tải, thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội của Nhà nước v.v...
4. Đặc điểm về đối tượng phạm tội
Theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 sủa đổi bổ sung 2017 thì đối tượng phạm tội tham ô là những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn ấy để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý. Chức vụ ở đây là vị trí làm việc trong hệ thống lãnh đạo, điều hành cơ quan, doanh nghiệp mà người phạm tội được cấp có thẩm quyền phân công. Quyền hạn ở đây là những quyền năng đi cùng với các chức vụ ấy và các quyền của những người khác không giữ chức vụ nhưng được giao những nhiệm vụ có trách nhiệm trong việc quản lý tài sản của cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Nói cách khác, chủ thể của tội phạm tham ô là chủ thể đặc biệt. Những người khác không phải chủ thể đặc biệt thì chỉ phạm tội tham ô khi họ là đồng phạm với những chủ thể phạm tội.
Như vậy, đối tượng phạm tội tham ô là những người có chức vụ, địa vị trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước hoặc những người khác làm việc trong các cơ quan doanh nghiệp ấy. Những người này thường là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan, doanh nghiệp, những người phụ trách các bộ phận của cơ quan, doanh nghiệp, những người khác có trách nhiệm, quyền hạn nhất định đối với công tác quản lý tài sản của cơ quan, doanh nghiệp như nhân viên kế toán, thủ kho, thủ quỹ; nhân viên nghiệp vụ khác như kế hoạch, cung ứng vật tư, kỹ thuật viên v.v...
Trong cơ chế quản lý hành chính tập trung, bao cấp trước đây, đối tượng tham ô thường chỉ tập trung ở những đối tượng giữ các chức vụ thấp, những nhân viên nghiệp vụ như: thủ kho, thủ quỹ, kế toán... và ở các cơ quan, doanh nghiệp cấp thấp, ở những bộ phận trực thuộc v.v... Nhưng từ khi có sự chuyển đổi cơ chế, địa vị, chức vụ của các đối tượng khi phạm tội tham ô đã thay đổi rất nhiều. Nhiều đối tượng phạm tội tham ô giữ những chức vụ, cương vị quan trọng trong hệ thống các cơ quan chính quyền nhà nước như lãnh đạo cấp Bộ, Lãnh đạo các Tổng cục, Vụ, Cục của các Bộ. Nhiều người giữ những chức vụ quan trọng trong các doanh nghiệp nhà nước như Tổng Giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc các tổng công ty, công ty, các viện nghiên cứu... Hầu hết các vụ án tham ô tài sản nghiêm trọng được phát hiện trong thời gian gần đây đều có liên quan đến những người đứng đầu các cơ quan, doanh nghiệp nơi xảy ra vụ án.
5. Thành phần, đặc điểm tâm lý đối tượng
Các đối tượng tham ô chiếm phần lớn là những người có trình độ văn hoá cao, có trình độ chuyên môn được đào tạo có hệ thống, nhất là về nghiệp vụ quản lý kinh tế. Đây là một đặc điểm rất quan trọng trong tổ chức điều tra các vụ án tham ô.
Với đặc điểm này của tội phạm tham ô, trong việc lập kế hoạch điều tra cần cân nhắc tính toán việc bố trí phân công ĐTV sao cho thích hợp với từng đối tượng cụ thể. Ngoài yêu cầu về kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ĐTV được phân công điều tra loại án này đòi hỏi phải có thêm những phẩm chất khác như có kinh nghiệm sống, có kiến thức xã hội, có nghiệp vụ và những hiểu biết nhất định về nghiệp vụ chuyên môn liên quan trực tiếp đến đối tượng phạm tội, đặc biệt là đối với ĐTV được phân công hỏi cung bị can.
Từ đặc điểm này cần chú ý một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều tra vụ án, đó là: Do có chức vụ quyền hạn, nhiều đối tượng phạm tội giữ những cương vị lãnh đạo quan trọng do đó họ thường có những quan hệ xã hội rộng rãi và phức tạp, nhất là có quan hệ với những người có chức, có quyền, trong hệ thống bộ máy nhà nước do đó dễ tạo ra những vụ án tham ô lớn bị “chìm xuồng” cùng với thời gian...
Cũng do có những quyền hạn nhất định, các đối tượng thường sử dụng các quyền hạn đó để thực hiện hành vi che giấu tội phạm và cản trở hoạt động điều tra như khống chế những nhân viên dưới quyền không được tạo điều kiện thuật lợi cho hoạt động điều tra, hoặc những người dưới quyền phải tham gia vào việc hợp pháp hoá hoặc thủ tiêu các tài liệu, chứng cứ về tội phạm... Thậm chí có khi họ dùng quyền hành để đổ tội cho người khác để lẩn tránh trách nhiệm.
6. Đặc điểm về thủ đoạn phạm tội và che giấu tội phạm
Cũng như các tội phạm khác một vụ tham ô xảy ra là kết quả của một loạt các hành vi nhất định của chủ thể phạm tội. Những hành vi được gọi là thủ đoạn phạm tội (hay thủ đoạn gây án) chỉ có ở những tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Những hành vi ấy vừa nhằm mục đích phạm tội, vừa nhằm che giấu tội phạm. Trong Bộ luật Hình sự có đề cập đến thủ đoạn phạm tội nhưng đó chỉ là những quy định chung có tính khái quát và không phải khi nào cũng được thể hiện rõ trong hành vi của đối tượng gây án mà phải phân tích, mổ xẻ, chứng minh.
Đây là một yêu cầu rất quan trọng, bởi vì "Từ phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm mà nghiên cứu phương pháp chiến thuật khám phá tội phạm đó"
Tham ô tài sản là loại tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Người phạm tội sử dụng chính ngay quyền hạn và nghiệp vụ của mình trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, thủ đoạn phạm tội và che giấu tội phạm của loại tội phạm này thường rất tinh vi và phức tạp. Tính chất phức tạp và tinh vi còn thể hiện ở hiện tượng sau: Trong thực tế nhiều khi để nhận biết được đối tượng phạm tội tham ô nói riêng và tham nhũng nói chung không khó, chỉ cần quan sát điều kiện sống và sinh hoạt của chúng là có thể nhận biết ngay được. Song để chứng minh chúng đã phạm tội tham ô thì lại là một công việc không đơn giản. Chính vì vậy số vụ án tham ô tài sản được phát hiện và xử lý trong những năm gần đây không tăng nhưng vẫn có thể nhận định tội phạm tham ô nói riêng và tham nhũng nói chung ngày càng nghiêm trọng và phức tạp.
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, thủ đoạn phạm tội tham ô có những đặc điểm riêng có tính đặc thù. Song về bản chất chung của thủ đoạn tham ô là những cách thức để chiếm đoạt tài sản và hợp pháp hoá tài sản bị chiếm đoạt. Cách thức chung phổ biến nhất là lập chứng từ giả mạo về các chi phí để rút tiền, tài sản ra khỏi sự quản lý, kiểm soát của cơ quan, doanh nghiệp để chiếm đoạt tài sản đó. Chứng từ giả mạo ở đây cần phải được hiểu là chứng từ được hợp thức hoá về mặt hình thức, hoặc hình thức biểu hiện bên ngoài của chứng từ là như thật (theo đúng quy định của Nhà nước) nhưng nội dung là giả là trái với sự thật.
Người phạm tội tham ô luôn tìm những thủ đoạn mới trong cách thực hiện và che giấu tội phạm. Những thủ đoạn mới đã dần thay thế các thủ đoạn tham ô “cổ điển” như tẩy xoá, sửa chữa chứng từ, sổ sách bằng các phương pháp cơ học hoặc hoá học...
Khác với một số loại tội phạm khác, vụ án tham ô tài sản thường là một quá trình được thực hiện bằng một loạt các hành vi tham ô (thực hiện tham ô nhiều lần) trong những khoảng thời gian nhất định, có khi liên tục, có khi gián đoạn; tài sản bị chiếm đoạt nhiều lần. Do đó nếu có bị phát hiện thì cơ quan điều tra cũng không dễ gì phát hiện được toàn bộ các hành vi tham ô mà đối tượng phạm tội đã thực hiện. Đây là một thủ đoạn tham ô rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay. Thực tế hiện nay cho thấy rất ít vụ án tham ô mà hành vi chiếm đoạt tài sản có khối lượng lớn diễn ra một cách chớp nhoáng bởi vì như vậy rất dễ bị phát hiện và làm rõ.
Bằng kinh nghiệm thực tiễn, nhiều cán bộ lãnh đạo và chuyên viên của các ngành bảo vệ pháp luật đã đưa ra kết luận: Chỉ cần chứng minh được 50% số tài sản bị chiếm đoạt trong một vụ án tham ô đã là thắng lợi lớn. Điều đó có nghĩa là rất khó có thể chứng minh làm rõ được toàn bộ các hành vi phạm tội đã thực hiện trong các vụ án tham ô kéo dài.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hoàn thiện các cơ chế quản lý kinh tế, thủ đoạn phạm tội của tội phạm tham ô ngày càng phức tạp về nội dung và đa dạng về hình thức.
Thủ đoạn phạm tội tham ô thường biểu hiện phổ biến dưới các hình thức sau:
- Đánh tráo tài sản: Đưa tài sản có giá trị thấp vào tráo lấy tài sản có giá trị cao để chiếm đoạt (bán đi lấy chênh lệch hoặc sử dụng trực tiếp cho nhu cầu của đối tượng phạm tội).
- Đưa vào các công trình xây dựng những vật tư, nguyên liệu... không đúng chủng loại, có giá trị thấp hơn giá trị dự toán tạo ra khoản chênh lệch để chiếm đoạt.
- Khai khống, nâng khối lượng công việc đã thực hiện, khai khống chi phí nhân công... tạo ra chênh lệch về chi phí để chiếm đoạt.
- Móc ngoặc giữa chủ đầu tư (bên A) với nhà thầu (bên B) hoặc thông đồng mua chuộc cán bộ giám sát thi công, cán bộ giám định để thực hiện các hành vi gian dối trong thi công công trình hoặc mua bán vật tư, vật liệu... nhằm tạo chênh lệch để chiếm đoạt.
- Nâng định mức kinh tế-kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh từ đó dẫn đến nâng khống giá trị chi phí tạo chênh lệch để chiếm đoạt.
- Trong đấu thầu xây lắp công trình, mua sắm vật tự, tài sản... chủ đầu tư và nhà thầu thông đồng với nhau để thực hiện mục đích tham ô.
- Hạ giá sản phẩm sản xuất ra hoặc tài sản thanh lý thấp hơn so với giá trị thực và giá bán thực tế, tạo chênh lệch để chiếm đoạt.
Những người phạm tội tham ô tài sản còn dùng một số thủ đoạn che giấu tội phạm như:
- Thủ tiêu các tài liệu, chứng cứ bằng cách gây ra hoả hoạn. Thủ tiêu tài liệu, chứng từ rồi tạo hiện trường giả vụ trộm v.v...
- Không sử dụng trực tiếp các tài sản chiếm đoạt là các vật cụ thể cho các nhu cầu sinh hoạt cá nhân mà bán các tài sản đó đi, chuyển đổi thành vàng, ngoại tệ hoặc các tài sản có giá trị khác để cất giấu hoặc sử dụng vào các việc như: cho vay, gửi vào ngân hàng, đầu tư vào kinh doanh v.v...
- Tìm mọi cách hợp pháp hoá tiền và tài sản do phạm pháp dưới dạng quà biếu, được thừa kế, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh; mua vé số trúng thưởng v.v...
- Sử dụng các mối quan hệ với các nhân vật có địa vị, chức vụ cao trong xã hội để bao che hành vi phạm tội (hiện tượng "ô dù").
- Sử dụng quyền hành khống chế những người dưới quyền, cản trở họ tố giác với cơ quan chức năng... Hoặc không trực tiếp thực hiện tội phạm mà tạo điều kiện cho người khác phạm tội rồi cùng chiếm đoạt tài sản, nếu có bị bại lộ thì chỉ có vi phạm “thiếu trách nhiệm...”.
- Dùng các thủ thuật nghiệp vụ kế toán và các chế độ quản lý kinh tế khác trong hạch toán tạo ra hiện tượng lỗ giả trong kết quả hoạt động kinh doanh để che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản. Đây là một thủ đoạn khá phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
- Tạo ra tình huống phá sản, thanh lý tài sản; hạ giá để chuyển nhượng... và nhiều thủ đoạn khác.
- Trong những năm gần đây xuất hiện hình thức mới là “tham nhũng chính sách”. Đó là những người có quyền lực sử dụng nó để xây dựng, ban hành chính sách đó móc ngoặc với các tập đoàn, tổng công ty để xây dựng, ban hành những chính sách có lợi, sau đó chia nhau những lợi ích như tăng giá một mặt hàng, giảm giá hàng loạt, hạn chế hay nối rộng hạng ngạch xuất nhập khẩu,…chỉ cần một quyết định sẽ tạo ra lợi ích hàng nghìn tỷ đồng chia nhau.
7. Đặc điểm về tài sản bị chiếm đoạt của tội phạm tham ô
Ngày nay, những vụ tham ô có giá trị tài sản bị chiếm đoạt lớn, đối tượng tham ô không sử dụng trực tiếp tài sản chiếm đoạt được cho nhu cầu cuộc sống mà được chuyển đổi thành tiền và các tài sản có giá trị khác (vàng, ngoại tệ, đá quí) để cất giữ và sử dụng dần cho nhu cầu cuộc sống của cá nhân và gia đình. Ngoài ra, chúng còn sử dụng vào các việc khác như: mua bất động sản, gửi vào ngân hàng, cho vay lãi, đầu tư vào kinh doanh...
Cùng với nhiệm vụ chính của hoạt động điều tra tội phạm tham ô tài sản là khám phá; làm rõ sự thật của vụ án thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm một trong những yêu cầu rất quan trọng của hoạt động điều tra loại tội phạm này là thu hồi triệt để tài sản bị chiếm đoạt. Do đó, nghiên cứu nắm vững các đặc điểm về tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ án tham ô tài sản có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động điều tra cũng như trong công tác bảo vệ tài sản cho Nhà nước và nhân dân.
8. Đặc điểm về quan hệ giữa tội phạm tham ô tài sản và các tội phạm khác
Thực tiễn kết quả hoạt động điều tra, khám phá tội phạm tham ô trong những năm gần đây cho thấy trong các vụ án tham ô lớn hầu hết đều có các tội phạm khác đi cùng. Các tội phạm khác thường gặp là: tội nhận hối lộ, Tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản, Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi v.v...
Thực tiễn cho thấy tội phạm tham ô không chỉ đi liền và gắn với các tội phạm kinh tế khác mà nó còn có mối quan hệ với một số tội phạm và tệ nạn khác như: cờ bạc, mại dâm, ma tuý v.v... Sau khi có được tài sản, bọn tội phạm tham ô thường sa vào cuộc sống hưởng lạc, ăn chơi sa đoạ; cờ bạc, mại dâm đã trở thành bạn đồng hành và nhu cầu sống hàng ngày của bọn chúng.
Nắm vững mối quan hệ giữa tội phạm tham ô với các tội phạm khác sẽ giúp cho ĐTV trong hoạt động điều tra tội phạm tham ô hoạch định được nhiều phương án điều tra, biết sử dụng các đặc điểm này để mở rộng khám phá tội phạm. Trong lập kế hoạch điều tra các vụ án tham ô, nhất là các vụ án có tính chất phức tạp và nghiêm trọng cần đề cập tới vấn đề chứng minh làm rõ các tội phạm khác có liên quan. Điều đó góp phần quan trọng để bảo đảm thực hiện nguyên tắc không để sót, lọt tội phạm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê