NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Học thuyết chính trị pháp lý của Kant.I ở Đức thời kỳ cách mạng tư sản:

1.1 Giới thiệu chung về I.Kant

I.Kant (1724-1804) ở Đức là người đầu tiên hệ thống hóa chủ nghĩa tự do - nên tảng tư tưởng cho giai cấp tư sản. Vào thời đại của Kant do bị áp chế bỏi chế độ chuyên chế và giáo hội, giai cấp tư sản Đức tở ra hết sức hèn nhát. Vê các vấn đề quan trọng nhất của thời đại, giai cấp này có lập trường hết sức dao động, và thậm chí đôi khi quá bảo thủ. Kant đặt ra mục đích phân tích lập trường này như là lập trường duy nhất hợp lý, tạo cho nó nên tảng triết học thẩm mỹ và từ đó biện minh cho nó. Học thuyết của ông về Nhà nước và vê pháp luật trình bày trong các tác phẩm: “Những tư tưởng về lịch sử đại cương từ quan điểm chính trị thế giới, ”về hòa bình vĩnh cửu", “những cơ sở duy lý của học thuyết vê pháp luật”.

Tràn đầy tinh thần khai sáng và phần nào chủ nghĩa cá nhân của trường phái phập quyền tự nhiên, nguyên tắc hòn đá tảng cho các quan điểm xã hội của Kant là: mởi cá nhân có phẩm hạnh hoàn thiện, có giá trị tuyệt đối; nhân cách không phải là công cụ thực hiên các kế hoạch nào đó, thậm chi cả những kế hoạch cao thượng nhất vì phúc lợi xã hội. Con người là chu thể có ý thức vê phẩm giá. Vê thực chất, khác biệt với thiên nhiên xung quanh con người trong hành vi của mình phải tuân thủ những đạo luật đạó đức. Đạo luật này là đương nhiên và không chịu những ảnh hưởng của hoàn canh và do đó lầ tất yếu.

1.2 Tư tưởng chính trị pháp lý của I.Kant

Thực chất của tự do là cái bên trong của nhân cách con người. Con người bẩm sinh có khả năng ứng xử theo mục đích và theo những cách thức phù hợp với mục đích đó, Song vấn đề là ở chở không phải ại cụng sử dụng được tự do cá nhân một cách đúng mức và do đó nó trở thành chuyện quyền. Tổng thể các điều kiện hạn chế chuyên quyền của người này đối với người .khác bằng các đạo luật chung khách, quan vê tự dọ, sẽ Ịoạị trừ xung đột pháp lý trong xã hội, được Kant gọi là Pháp, luật. Từ cách hiểu pháp luật như vậy cho thấy pháp luật có nhiệm vụ điều chỉnh hình, thức bên ngoài các hành vi cọn người, pháp luật mới có tính tuân thủ chung. Song đạt dượt điều đó bằng cách nào? Thông qua việc tạo cho nó hiệu lực bắt buộc. Bằng cách đó tạo ra cầu nối pháp luạt vói Nhà hước, bỏi lẽ chỉ có quyền lực xã hội mới tạo được cho pháp luật hiệu lực bắt buộc, quyền lực đó là Nhà nước.

Theo Kant có ba loại pháp luật: pháp luật tự nhiên; pháp luật thực tế; và pháp luật công lý. Pháp luật tự nhiên là những nguyên tắc tiên nhiệm tất nhiên; pháp luật thực tế, mà' nguồn là những ý chí của người lập pháp; pháp Ịuật công Ịý là những đòi hỏi khát vọng không được pháp luật quy định và nó không được bảo đảm băng cưỡng chế. Pháp luật tự nhiên vê phần mình chia thành hai nhảnh: luật tư và luật công. Luật tư Điều chỉnh các mốì quan hệ giữa các cá nhân với tư cách là các chủ sở hữu, còn luật công Điều chỉnh các mối quán hệ giữa mọi người liên minh thành cộng đồng các: công dân (Nhà nước), với tư cách là các thành viên của tổng thể chính trị.

Sự vô quyền và chuyên quyên phong kiến được Kant đối lập với trật tự pháp lụật tự .sản dựa trên các dạo.ìụật chung cho tất cả.

Chế định trung tâm của luật công là quyền của nhân dân đòi hỏi được tham gia vào việc thiết lập trật tự pháp luật bằng cách thông quạ Hiến pháp thể hiện ý chí của họ. Thực phất đó là tư tựởng dân chủ tiến bộ về chủ quyên nhân dân. Tiếp theo Rút xô, quyền tối cao của nhân dân diidc Kant túyên bô' là cơ sở cho tự do, bình đẳng và độc lập cửả mọi công dân trong Nhà nước, một tô’ chức tổng thể của nhiêu cá nhân quan hệ với nhau bỏi các đạõ luật. Đưa ra nguyên tắc chủ quyền nhân dân, Kant lại vặi vã biệri minh ràng ông không có ý nói đến nên dân chủ rộng rãi thực sự và không bị cắt xén. Ông chia các công dân thành tích cực và thự động (bị mất quyền bầu cử). Người thụ động buộc phải kiếm kê' sinh nhai, chỉ biết chấp hành mệnh lệnh ngưối khác, họ là những người lao động và bị bóc lột.

Mượn tư tưởng của Môngtexkiơ về việc phân chia quyền lực, Kant không lý giải tư tưởng cân bằng quyền lực. Theo ông mọi Nhà nước có ba quyền lực lập pháp (chỉ thuộc “ý nguyện và chủ quyền tập thể của nhân dân”), hành pháp (thuộc người cầm quyền theo luật và tuân thủ quyền lực lập pháp) và tư pháp (do quyền lực hành pháp bổ nhiệm). Tổng thể và sự nhất trí ba quyền lực này có thể ngăn ngừa chuyên chê' và bảo đảm phồn vinh cho quốc gia.

Kant lý giải vấn đề vê nguồn gốc Nhà nước gống hệt như Rút xô; ông cho ràng các luận điểm của mình là duy lý, tiên nhiệm, ông không định nói đến Nhà nước cụ thể nào, mà là nói về Nhà nước lý tưởng theo các nguyên tắc pháp luật thuần túy.

Vê hình thực Nhà nước Kant I chia ra ba dạng: chuyên chế, quý tộc và dân chủ. Ông chọ ràng trung tâm của vấn đê tổ chức Nhà nước là phương thức nhân dân cầm quyền. Từ quan điểm nằy ông phần biệt hình thức dân chủ và độc tài. Hình thức đầu dân chúi dựa trên sự phân tách quyền lực‘hành pháp khỏi quyền lực lập pháp, còn hình thức độc tài thì hòa nhập cả hai vào nhau. Với Kant nên cộng hòa khộng đồng nghĩa với dân chủ, qộng như chuyên chê' không họàn toàn đồng nhất với độc tậi.

Mặc dù Kant đưa ra quan điểm vê chử quyền nhân dân, song ông hết sức lo ngại vê các kết luặn cấp tiến rút ra từ đó. Ông khẳng định mội quýền lực lă xuất phát từ Chúa' Nhà câm quyền có các quyên chứ không phải có trách nhiệm đối với các thần dâm Ông bác bò quyền nhân dân trừng trị người cầm qụỳên, ngay cả khi người đó vi phạm trách nhiệm trước đất nước. ,ộng cương quyết phê phán quyên khởi nghĩa và chỉ thừa nhận việc phản kháng hợp pháp, thụ động.

Xuất phát từ quan niệm khẳng định tính nghịch lý của phát triển xã hội, một mặt Kant đánh giá cao vai trò của các xung đột xã hội. Ông coi đó không chỉ là động lực thúc đẩy phát-triển lịeh sử, mà còn là một Điều cao cả đáng được trân trọng, nếu như chúng “đựợc tiến hành một cách đúng đắn”. Mặt khác Kant kêu gọi tất cả các dân tộc hãy thiết lập mối quan hệ hòa bình, hđu nghị. Kêu gọi tất cả các quốc gia hãy đoàn kết xây dựng một liên bang tất cả dân tộc trên hành tinh. .

Tư tưởng xây dựng một thế giới đại đồng của tất cả các dân tộc, vì sự phồn vinh của nhân loại, vì tự do của mởi con người phù hợp với xu hướng chung của thời đại ngay nảy.

2. Một số học thuyết chính trị pháp lý của Mỹ thời kỳ giành độc lập

2.1 Những quan điểm chính trị của Hamintơn (1757-1804)

Sau chiến tranh với Anh quôc, và thu hồi được hên độc lập, người Mỹ gặp khó khăn về chú quyền quốc gia lẫn đời sống kinh tế. Nước Mỹ rơi vào tình trạng hết sức rối ren. Là bộ trưởng tài chính của chính quyền Washington, Hamiton rất thấm thìa những điều khó khăn này. Cha là người Anh mẹ là người Pháp, người công dân Mỹ này nhìn thấy vấn đề mà nước cộng hòa non trẻ phải đương đầu. Ông cho rằng, với tư cách là bộ trưởng tài chính ông có nhiệm vụ phải áp dụng mọi biện pháp và bằng mọi giá dể tạo ra cho Nhà nước mình một nên tài chính vững vàng, đê củng cố nên độc lập đả giành được.

Ông hiểu rõ tính chất quan trọng củạ tiên bạc và nhưng Điều kiện kinh tế của nước cộng hòa non trẻ. Ông cúng hiểu rằng sự khan hiếm tiên bạc là mối đe dọa đưa quốc gia trẻ tiến vào tình trạng kiệt quệ toàn thể: Nếu không có tiên luân chuyển, sản xuất cũng sẽ kiệt quệ đi,

Hamiton nhận thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa sự thịnh vượng kinh tế và sự thống nhất quốc gia. Ông nổi: “Tất cả hệ thống tài chính của ông là để liên kết chặt chẽ hơn Những tiểu bang trong khối liên hiệp”.

Ông có mục đích cao cả làm mọi biện pháp để bảo vệ Liên bang hợp chủng quốc, cho nên tư tưởng của ông muốn chống lại sự phản kháng của dân chúng, bảo vệ quyền lợi của tư sản và chủ hô, bảo vệ tư hữu. Dân chủ theo Hamiton là sự ngự trị của dân đen nhằm mục đích chống lại sở hữu.

Ông viết: “Một liên bang đoàn kết vững chắc sẽ đem lại một thời đại vinh quang nhất cho nên hòa bình và tự do của các tiểu bang, sẽ là một hàng rào ngăn cản sự chia rẽ và phiến loạn trong nước” U).

Hamiton chủ trương xây dựng một ngành hành pháp mạnh trong Chính phủ liên bang. Phân chia quyền lực, nhưng không như Rousseau, ông cho rằng ba cành quyền lực phải tuyệt đôi cân bằng không cho phép cành quyên lực lập pháp đứng trên hành pháp. Ông viết:

“Những nguyên tắc dân chủ đó giúp cho tá nhận thấy cần phải phân biệt các ngành quyền và giúp ta làm thế nào để các ngành hoàn toàn độc lập với nhau. Phân biệt ngành hành pháp và tư pháp khỏi lập pháp đế’ làm gì, nếu trong khi đã được phân định ròi mà hành pháp, tư pháp vẫn phụ thuộc vào ngành lập pháp?

Khi đấu tranh chô'ng dân chủ, Hamịton đã bảo vệ tư tưởng về quyền hành pháp mạnh, bảo vệ quân chủ lập hiến. Một khi doi hỏi đó không dược đáp ứng thì lại đòi hỏi thiết lập quyền lực tổng thống suốt đời, tức là thẩm quyền vô hạn cho tổng thống. Ông ta đưa ra và bảo vệ tư tưống quyền lực trung ương mạnh đế’ đàn áp quần chúng bị áp bức và khởi nghĩa nhân dân. Ông đề nghị cử các thống đồ'c bang do Chính phủ bổ nhiệm, Chính phú có quỳẽn to lớn, như quyền phủ quyết mọi đạo luật của các bang.

Chống lại các thiết chế dân chủ tại Đại hội lập hiến Philaddenphia, Hamiton đã đòi không đưa vào Hiến pháp hiến chương về các quyền và ông đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo Điều kiện tài sản cao nhăm ngăn chặn nhân dân tham gia vào đời sống chính trị. Cơ quan lập pháp phải gôm hai viện, trong đó thượng nghị viện do các bang bầu ra có vai trò là cơ quan ngăn chặn quốc hội thông qua các đạo luật không có lợi cho đại tư sản và chủ nô. Những tư tưởng này của Hamiton được thể hiện trong Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787. Hiến pháp này đã tạo lập nền cộng hòa với quyền hành pháp mạnh.

2.2 Những quan điểm chính trị của Pênơ

Với những tư tưởng chính trị cấp tiến vào thời kỳ chiến tranh giành độc lập đã xuất hiện nhà dân chủ cách mạng tư sản Tô mát Pênơ (1737-1809).

Trong tác phẩm “lẽ phải” Pênơ chỉ rõ cho các thuộc địa thấy rằng nước Anh cầm tù họ trong ách nô lệ, và họ có quyền dùng bạo lực đáp lại bạo lực, bằng con đường chiến tranh cách mạng giành độc lập để tiêu diệt chính quyền Anh. Sự phê phán của ông đối với nên quân chủ, tư tưởng về quyền không thể tách rời của nhân dân làm cách mạng cũng được thể hiện trong “Tuyên ngôn độc lập Mỹ”.

Pênơ coi chiến tranh các thuộc địa Bắc Mỹ của Anh giành độc lập Là cuộc chiến tranh cách mạng, là .cuộc “cách mạng danh dự nhất, cao thượng và vinh quang nhất tô điểm cho lịch sủf nhận loại”. Cuộc đấu tranh giành độc lập theo,ông là .quyền tự nhiên không thể tước đoạt của mởi dân tộc.

Khi luận bàn một cách dân chủ học thuyết quyên tự nhiên Pêno bảo vệ tư tưởng tự do và bình quyên bẩm sinh của con người. Đó là các quyền tự do ngôn luận, báo chỉ, tín ngưỡng, bình đẳng, quyền hướng tới hạnh phức và phồn vinh v.v... trên cơ sở các quyền tự nhiên mà xây dựng các quýên công dân và những quyền này không được trái với các quyền tự nhiên. Ông bảo vệ tư tưởng chủ quyền nhân dân. Cội nguồn của quyền lực là nhân dân và việc thiết lập quyền lực lập pháp là quyền tự nhiên không thể tách rời của nhân dân.

Là một trong những người đầu tiên trong Lịch sử chính trị phân biệt xã hội và Nhà nước. Pênơ viết: “Xã hội được tạó lập bỏi các nhu cầu của chúng ta, còn Nhà nước là bỏi các ‘tệ nạn của chúng ta, xã hội mọi trạng thái là Điều thiện, còn Chính phủ ngay cả tốt nhất cũng chỉ là Điều ác tất yếu, còn xấu nhất là cái ác không thể chịu đựng được”. Do đó Nhà nước là sản phẩm của xã hội. Chúng khác nhau về nguồn gốc cũng như nhiệm vụ. Nếu như con người không có các tội lởi và xây dựng các mối quan hệ trên cơ sở công bằng ban đầu, thì ệằn gì đến các Chính phủ. Mục tiêu của Chính phù là đảm bảo an ninh và tự do, bỏi vậy Chính phủ tốt nhất, hình thức cầm quyền. tốt nhất là đảm bảo tốt nhất an-ninh và cảc quyền tự do của dân.

Chế độ quân chủ không thuộc các hình thức đó. Bản thân nguồn gốc của chính quyền quân chủ là gắn liên với bạo lực và lộng quyền. Sự nảy sinh chế độ quân chủ là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Các ông vua nhấn chìm thế giđi vào cuộc hởn chiến đẫm máu.

Lý tưởng chính trị của Pênơ là nền cộng hòa dân chủ với chế độ tổng tuyển cử, đại diện rộng rãi của bình quyền. Song nền cộng hòa này với sự bảo lưu chế độ tư hữu trên thực tế là nên cộng hòa dân chủ tư sản. Thật ra Pênơ phê phán kịch liệt sự bóc lột tư bản chủ nghĩa. Song ông không đòi hỏi tiêu diệt tư hữu và thiết lập bình đẳng kinh tế. Giống như Rutxô và những người khác, ông muốn hạn chế cái ác, loại trừ sự bất công về tài sản quá mức, thủ tiêu "sự tương phản giữa giàu nghèo, tạo ra đa số mọi người có sở hữu”.

Việc phê phán nhà thờ, cuồng tín và chính sách ngu dân do Pênơ thực hiện có ý nghĩa chính trị to lớn. Ông chỉ ra mối liên quan giữa tôn giáo với nên chuyên chế, tồn giáo bất kỳ đều là công cụ áp bức, vu khí của nên chuyên chế.

Ông bảo về tư tưởng hòa bình, chống chiến tranh. Đó là tư tưởng có ý nghĩa to Iđn. Chiến tranh là kết quả của chính sách vụ lợi của các nhà cầm quyền háo danh, là nghề nghiệp và lợi nhuận của họ. Những chính phù không muốn hòa bình phải bị lật đổ. Đồng thời ông ủng hộ các cuộc chiến tranh chính nghĩa, như chiến tranh giành độc lập.

Từ đó Pênơ đưa ra quyền nhân dân làm cách mạng và tiêu diệt chế độ-chính trị không đáp ứng các lợi ích và mục đích xã hội. Nhà tư tưởng thấy cách mạng là quy luật, mà thiếu nó xã hội con người không thể có tiến bộ và không thể khai trí dân sinh. Ông coi cách mạng Mỹ là mở đầu cho cuộc đấu tranh vì tự do, tiên đề cho cuộc đấu tranh cách mạng các nước khác, ổng kêu gọi nhân dâh Anh làm cách mạng chống lại bạo chúa.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê