1. Khái quát chung

Các lý thuyết nền bao gồm Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory), Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) và Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)Lý thuyết chi phí chính trị (Policital cost theory), Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependence theory)

Một số lý thuyết nền giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính?

>> Luật sư tư vấn pháp luật thuế, gọi: 1900.6162

2. Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết ủy nhiệm (hay lý thuyết đại diện) được đưa ra vào năm 1976 trong một nghiên cứu của Jensen M. C., and Meckling W. H. Một mối quan hệ ủy nhiệm là một hợp đồng mà một hay nhiều người - bên ủy nhiệm (principal), giao cho một người khác - bên được ủy nhiệm hay bên đại diện (agent), thay mặt thực hiện một số công việc bao gồm cả việc ra quyết định. Như vậy, trong một công ty, mối quan hệ giữa các cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty với các nhà quản lý công ty (ban giám đốc) chính là mối quan hệ ủy nhiệm.
Khi cả hai bên đều hành xử theo hướng tối đa hóa lợi ích của mình, có thể tin rằng bên được ủy nhiệm sẽ không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho bên ủy nhiệm (Jensen M. C., and Meckling W. H,1976). Fridson M. and Alvarez F.,(2013) cho rằng, một công ty cổ phần tồn tại vì lợi ích của các cổ đông, mục đích của công ty cổ phần đó chính là tối đa hóa giá trị của cổ đông; mặt khác, những nhà quản lý cũng luôn theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình. Theo Jensen M. C., and Meckling W. H (1976), nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cho chính bản thân mình và có xu hướng quên đi lợi ích của cổ đông khi họ có thể đặt được mức lợi nhuận nào đó. Nhà quản lý có thể sẽ hành xử theo hướng tăng lợi ích thông qua việc chi tiêu nhiều tiền hơn cho những khoản mục không cần thiết, làm giảm lợi ích của nhà cổ đông; hoặc không cố gắng xây dựng, nâng cao giá trị của công ty (Vũ Hữu Đức, 2010).
Chi phí ủy nhiệm (Agency cost) phát sinh khi bên ủy nhiệm cố gắng thực hiện những biện pháp quản nhằm giảm thiểu hành động vì lợi ích cá nhân của bên được ủy nhiệm, giúp duy trì mối quan hệ đại diện hiệu quả. Trong công ty, khi người chủ sở hữu công ty cũng là người đại diện (giám đốc công ty) thì chi phí ủy nhiệm bằng không. Jensen M. C., and Meckling W. H (1976) chia chi phí ủy nhiệm thành ba loại, đó là:
(1) Chi phí giám sát (Monitoring cost): là các chi phí cho người chủ sở hữu (bên ủy nhiệm) trả để đo lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của người quản lý (bên được ủy nhiệm). Ví dụ như chi phí kiểm toán, kiểm tra giám sát, ký kết hợp đồng, sa thải người đại diện,...
(2) Chi phí ràng buộc (Bonding cost): là chi phí do nhà quản lý (bên được ủy nhiệm) phải chịu nhằm đảm bảo việc giảm thiểu các hành động có thể gây thiệt hại cho chủ sở hữu (bên ủy nhiệm). Ví dụ như: khoản bồi thường nhà quản lý sẽ gánh chịu trong hợp đồng đại diện nếu có gây tổn thất cho công ty hoặc không hoàn thành mục tiêu đã cam kết với chủ sở hữu.
(3) Phần tổn thất còn lại (Residual loss), là phần lợi ích của chủ sở hữu (bên ủy nhiệm) bị giảm đi dù cả hai bên đã thực hiện những hành động phát sinh chi phí
(1) và (2). Ví dụ như thiệt hại do kiểm soát quá mức hoạt động của nhà quản lý, quyền biểu quyết của các cổ đông trong một số vấn đề quan trọng của công ty gây ra thiệt hại cho công ty,…
Theo Watson, Shrives và Marstn (2002) trích trong Nguyễn Trọng Nguyên, (2015), theo lý thuyết ủy nhiệm, mục đích chính của BCTC là giám sát sự hiệu quả của những nhà quản lý, còn nhà quản lý sử dụng công bố để thuyết phục cổ đông rằng họ hành động một cách tốt nhất. Kiểm toán đóng vai trò giám sát cho các cổ đông, vì có thể phát hiện ra những sai sót trọng yếu trong BCTC của công ty, làm giảm thiểu xung đột giữa người quản lý và chủ sở hữu. (Jensen M. C., and Meckling W. H, (1976), Nguyễn Thị Phương Hồng (2016).
Áp dụng vào nghiên cứu, tác giả dùng lý thuyết này để giải thích cho các biến: quyền sở hữu của nhà quản lý, sự kiêm nhiệm của giám đốc, tính độc lập của HĐQT, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty, loại hình công ty kiểm toán.

3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) và Lý thuyết tín hiệu

(Signaling Theory)

Người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng là G. A Akerlof vào năm 1970 trong bài nghiên cứu của mình. Việc ra quyết định cho một vấn đề nào đó của tất cả mọi cá nhân, tổ chức đều xuất phát từ các thông tin thu thập được về vấn đề đó. Có một số thông tin riêng tư, bí mật, thường không được truyền đạt hết mà bị che giấu đi ít nhiều. Do đó, giữa những người nắm giữ thông tin và những người khác không thể tiếp cận được thông tin một cách trọn vẹn xuất hiện tình trạng thông tin bất cân xứng. Trong công ty, thông tin bất cân xứng xảy ra giữa các cổ đông- chủ sở hữu hoặc nhà đầu tư với nhà quản lý. Các cổ đông và nhà đầu tư không thể có thông tin chính xác và toàn diện về tình hình tài chính của công ty như người quản lý. Người quản lý có thể đưa ra những thông tin không kịp thời, không tin cậy, thiếu chính xác hoặc không đầy đủ về tình hình tài chính của công ty, khiến các nhà đầu tư đưa ra những quyết định sai lầm và chịu nhiều bất lợi.
Thông tin bất cân xứng thường dẫn đến hai hậu quả, đó là “lựa chọn bất lợi” và “suy giảm đạo đức”. “Lựa chọn bất lợi” là kết quả của việc có thông tin bất cân xứng xảy ra trước khi giao dịch hay ký hợp đồng. Lấy ví dụ, trên thị trường chứng khoán, thông tin bất cân xứng xảy ra khi các CTNY và các bên có liên quan cố tình che đậy các thông tin liên quan, dẫn đến tình trạng người mua (các nhà đầu tư) không thể có được các thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời và rơi vào tình trạng lựa chọn bất lợi khi đưa ra quyết định đầu tư. Ngược lại, “suy giảm đạo đức” là hậu quả khi thông tin bất cân xứng xảy ra sau khi giao dịch xảy ra. Ví dụ như sau khi nhà đầu tư đã mua cổ phiếu của doanh nghiệp phát hành, các nhà quản lý có thể điều hành công ty, sử dụng nguồn vốn không đúng mục đích, không có hiệu quả. Nếu tỷ lệ sở hữu vốn của nhà quản lý thấp, việc kinh doanh không hiệu quả không làm họ bị thiệt hại nhiều trên phần vốn họ sở hữu.
Michael Spence trong bài nghiên cứu năm 1973 đã đưa ra giải pháp để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng bằng cơ chế phát tín hiệu. Lý thuyết tín hiệu được sử dụng để mô tả cách ứng xử của các bên khi tiếp cận với các thông tin không giống nhau. Một bên lựa chọn cách để truyền đạt (hay phát tín hiệu) thông tin, và bên còn lại lựa chọn cách để giải nghĩa thông tin. Bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu một cách trung thực và tin cậy đến những bên ít thông tin. Trên TTCK, các công ty có thể lựa chọn đưa ra những công bố, phát tín hiệu đến người sử dụng thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh tốt, các dự án có tiềm năng phát triển, sự lựa chọn các phương pháp kế toán thích hợp,… của mình để thuyết phục nhà đầu tư về tình hình kinh doanh của mình. Ngược lại, các nhà đầu tư cũng có thể sàng lọc, nhận dạng, so sánh các công ty có tình hình kinh doanh tốt hay xấu để đưa ra quyết định đầu tư. Trên TTCK, các công ty có thể lựa chọn đưa ra những công bố, phát tín hiệu đến người sử dụng thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh tốt, các dự án có tiềm năng phát triển, sự lựa chọn các phương pháp kế toán thích hợp,… của mình để thuyết phục nhà đầu tư về tình hình kinh doanh của mình. Ngược lại, các nhà đầu tư cũng có thể sàng lọc, nhận dạng, so sánh các công ty có tình hình kinh doanh tốt hay xấu để đưa ra quyết định đầu tư. 
Lý thuyết này được áp dụng vào nghiên cứu để giải thích cho các biến: quyền sở hữu của nước ngoài, quy mô công ty, loại hình công ty kiểm toán, lợi nhuận công ty, chính sách cổ tức.

4. Lý thuyết chi phí chính trị (Policital cost theory)

Chi phí chính trị được đề cập trong cuốn sách về lý thuyết kế 6 toán thực chứng của Watts và Zimmerman năm 1986. Chi phí chính trị là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu thông qua một hành vi mang tính chính trị từ tác động bên ngoài (Nhà nước, nghiệp đoàn hay các nhóm cộng đồng).
Nội dung cơ bản của lý thuyết này đó là một công ty chịu chi phí chính trị cao được dự kiến sẽ tiết lộ thêm nhiều thông tin ra thị trường nhằm hạn chế chi phí chính trị này. Theo Watts & Zimmerman (1986), các công ty chịu sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý thường có xu hướng gia tăng công bố thông tin để tránh sự can thiệp của các quy định.
Lý thuyết này được áp dụng vào nghiên cứu để giải thích cho các biến: quyền sở hữu của Nhà nước, quyền sở hữu của tổ chức.

5. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependence theory)

Lý thuyết này được xây dựng bởi Pfeffer and Salancik (1978), cung cấp nền tảng về vai trò nguồn lực của HĐQT. Pfeffer and Salancik (1978) cho rằng công ty như một hệ thống mở, phụ thuộc vào các tình huống bất ngờ trong môi trường bên ngoài công ty. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực ghi nhận ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài lên hành vi của tổ chức và mặc dù bị hạn chế về bối cảnh, các nhà quản trị có thể hành động nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc và không chắc chắn của môi trường này hoặc tăng thêm các nguồn lực khác (Hillman et al, 2009). Họ có thể thực hiện nhiều chiến lược khác nhau để tiếp cận các nguồn lực trong công ty, chống lại những tính huống khẩn cấp (Pfeffer and Salancik, 1978).
Lý thuyết này cho thấy vai trò quan trọng của HĐQT đối với sự tồn tại của công ty cũng như việc tiếp cận và phân bổ các nguồn lực cho hoạt động của doanh nghiệp.
Lý thuyết này được áp dụng vào nghiên cứu để giải thích cho biến: tính độc lập của HĐQT và sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và BGĐ.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê