1. Khái quát chung

Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự theo thủ tục do luật định.  Khái niệm bị can không đồng nghĩa với khái niệm người có tội.  

2. Những yếu tố chi phối tâm lý bị can

2.1 Hoàn cảnh phạm tội của bị can

Hoàn cảnh phạm tội là khái niệm chỉ những yếu tố thúc đẩy, tạo điều kiện cho bị can có hành vi phạm tội. Chẳng hạn: bị can phạm tội do bị lôi kéo, bị ép buộc, bị lừa đảo, do túng thiếu, cùng quẫn, do bị xúc phạm bởi hành vi của nạn nhân, do tự ý cá nhân... mà phạm tội.
Hoàn cảnh phạm tội là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm lý của bị can. Cùng phạm một tội nhưng hoàn cảnh khác nhau sẽ làm nảy sinh ở bị can trạng thái tâm lý khác nhau.

2.2 Hoàn cảnh bị bắt

 Hoàn cảnh bị phát hiện và bị bắt sau khi phạm tội cũng là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và thái độ khai báo của bị can. Bị can bị bắt quả tang khi đang thực hiện tội phạm hay bị bắt tạm giam, bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ... đều ảnh hưởng khác nhau tới tâm lý bị can. Những bị can bị bắt trong trường hợp quả tang thường có biểu hiện lo sợ, đau khổ, hoặc chán nản, bất cần. Bởi vì việc bị bắt quả tang khi đang thực hiện tội phạm gắn liền với việc cơ quan điều tra đã thu được chứng cứ rõ ràng về hành vi phạm tội của bị can, ở bị can không còn niềm tin vào việc che giấu tội lỗi. Trường hợp bị bắt theo lệnh truy nã, phần lớn bị can có thái độ bình tĩnh, lỳ lợm, ngoan cố bởi vì bị can đã có sự chuẩn bị tâm thế, có dự kiến trường hợp sẽ bị bắt. Các trường hợp khác, lúc đầu bị can thường rất hoang mang, nhưng đồng thời vẫn còn niềm tin vào việc trốn tránh hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình bằng cách khai báo quanh co, gian dối hoặc mua chuộc cán bộ điều tra, nhờ sự “giúp đỡ” của một thế lực nào đó. Ngoài ra, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh cụ thể lúc bị bắt (như bị bắt ở nơi làm việc lúc đông người, hay bị bắt trên đường đi khi chỉ có một mình) cũng có ảnh hưởng đến tâm lý bị can. Song hoàn cảnh bị bắt không phải yếu tố quyết định tâm trạng của bị can và thái độ khi khai báo của họ.

2.3 Hậu quả của tội phạm 

Hậu quả của tội phạm thường được xem xét là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội xâm hại đến khách thể nào và gây thiệt hại tới mức nào như: chết người, thiệt hại về kinh tế, nhân phẩm v.v... Sau khi thực hiện tội phạm, bị can thường bị ám ảnh bởi những hậu quả do hành vi của họ gây ra. Nếu hậu quả tội phạm được bị can nhận thức là nghiêm trọng, hoặc hậu quả đó gây cho bị can cảm xúc mạnh, thường gây cho bị can trạng thái tâm lý đau khổ, dằn vặt, ân hận, hoặc lo lắng, tìm cách trốn tránh trách nhiệm. Ngược lại, nếu hậu quả tội phạm là nghiêm trọng, nhưng bị can lại nhận thức là bình thường, thì bị can thường có thái độ bình thản, coi thường, thậm chí có thái độ khiêu khích, chống đối cơ quan điều tra.

2.4 Tình trạng bị khởi tố và áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác

Từ khi bị khởi tố với tư cách là bị can và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bị can bị tước đi một số quyền tự do, nhiều nhu cầu bị hạn chế, nhất là không được giao tiếp tự do với xung quanh như trước, sự thay đổi điều kiện sống, sinh hoạt, bao giờ cũng tạo nên sự hẫng hụt, trống vắng khác thường về tâm lý. Ở bị can diễn ra sự thay đổi rất lớn về tâm lý trên tất cả các mặt nhận thức, tình cảm, ý chí và các phẩm chất cá nhân. Những thay đổi đó diễn ra khác nhau ở từng bị can cụ thể nhưng nói chung đều có ảnh hưởng lớn tới thái độ khai báo của họ. Trong hoạt động hỏi cung, cán bộ điều tra cần chú ý tìm hiểu, nắm bắt những đặc điểm tâm lý đó.

2.5 Thái độ, phong cách và phương pháp tác động của cán bộ điều tra

Quá trình gặp gỡ, tiếp xúc (cả chính thức và không chính thức) giữa cán bộ điều tra và bị can bao giờ cũng để lại cho bị can những nhận xét về cán bộ điều tra. Thái độ và phong cách giao tiếp cũng như phương pháp tác động của cán bộ điều tra có ảnh hưởng rất mạnh tới tâm lý bị can. Nếu cán bộ điều tra có phương pháp tác động phù hợp, bị can đánh giá thái độ và phong cách của cán bộ điều tra tốt, thì bị can sẽ có lòng tin vào cán bộ điều tra, sẽ thay đổi thái độ khai báo theo chiều hướng tốt. Nhưng nếu cán bộ điều tra để lại cho bị can ấn tượng xấu (sợ hãi, coi thường, khinh ghét) thì hoạt động hỏi cung sẽ khó thu được kết quả, thậm chí không thể tiến hành được.Vì vậy, trong giao tiếp hỏi cung, cán bộ điều tra phải hết sức thận trọng tìm hiểu bị can để xác định thái độ, phương pháp tác động phù hợp.

3. Những đặc điểm tâm lý nổi bật ở bị can

Bị can là người bị cơ quan điều tra khởi tố và áp dụng biện pháp cưỡng chế để tiến hành điều tra theo trình tự tố tụng hình sự nên ở họ có những đặc điểm tâm lý đặc trưng đó là:
- Tâm trạng hoang mang, lo lắng: Là biểu hiện tâm lý phổ biến nhất ở bị can, đó là trạng thái tâm lý biểu hiện sự bất ổn định, sự xáo trộn trong đời sống tinh thần của bị can. Thông thường, tâm trạng hoang mang, lo lắng xuất hiện ở bị can ngay sau khi bị bắt, và ở một số bị can nó có thể kéo dài đến tận sau khi bị tuyên án. Tâm trạng hoang mang, lo lắng là trạng thái không có lợi cho hoạt động chủ động, sáng suốt của chủ thể. Ở trạng thái này, sự khai báo của bị can thường thiếu lôgíc, dễ bộc lộ sơ hở mâu thuẫn, cán bộ điều tra cần tận dụng sơ cung bị can, vạch trần những mâu thuẫn đó.
- Mong muốn tìm hiểu sự hiểu biết của cơ quan điều tra về nội dung diễn biến, vụ án và tiến trình điều tra 
Do sợ bị trừng phạt nặng và muốn tìm cách trốn tránh, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị can rất muốn tìm hiểu xem cán bộ điều tra và cơ quan ĐT đã biết những gì, tiến trình điều tra như thế nào v.v... để căn cứ vào đó đưa ra những lời khai “có lợi” cho họ. Đây cũng là biểu hiện tâm lý rất phổ biến ở bị can. Từ chỗ muốn tìm hiểu sự hiểu biết của cơ quan điều tra để quyết định lời khai, ở bị can nảy sinh một loạt nhu cầu: muốn gặp gia đình, người thân, muốn liên lạc với bên ngoài, muốn “có bạn”... Cán bộ điều tra có thể tận dụng đặc điểm này để sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm tiếp cận tác động và khai thác thông tin ở bị can. Trong quá trình giao tiếp với cán bộ điều tra, bị can cũng luôn quan sát, nhận xét về thái độ, cách đặt câu hỏi và mọi biểu hiện khác của cán bộ điều tra để phán đoán tình hình và căn cứ vào nhận định đó để khai cung. Nếu bị can nhận thức rằng tiến trình điều tra đang gặp khó khăn, cơ quan điều tra chưa có chứng cứ đầy đủ thì bị can sẽ có thái độ quanh co không khai báo sự thật. Vì vậy cán bộ điều tra cần cẩn thận trọng khi tiếp xúc và tác động đến bị can, không để bị can phán đoán được điều mà cơ quan điều tra đang cần biết để làm rõ tội trạng của chúng.
- Mong muốn được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt
 Đây là đặc điểm tâm lý bao trùm, chi phối các đặc điểm khác ở bị can. Trong thực tế, cũng có những bị can không trốn tránh trách nhiệm hình sự, không xin giảm hình phạt dù là mức án cao nhất. Nhưng đa số các trường hợp khác, các bị can đều có mong muốn được giảm nhẹ hình phạt. Mong muốn này đã chi phối các đặc điểm tâm lý khác và làm nảy sinh ở những bị can khác nhau những thái độ khai báo khác nhau. Đối với những bị can phạm tội lần đầu, phạm tội do lỗi vô ý, hoặc do bị lôi kéo, cưỡng ép hoặc do kém hiểu biết pháp luật mà phạm tội thì mong muốn này thường thúc đẩy bị can khai báo thành khẩn để hưởng lượng khoan hồng. Nhưng đối với đa số các bị can khác, đặc biệt là các bị can chuyên nghiệp, lưu manh, côn đồ, những bị can phạm tội cố ý và không bị bắt quả tang, thì mong muốn này lại thúc đẩy chúng khai báo quanh co, chống đối, ngay cả khi cơ quan điều tra đã có đủ tài liệu làm rõ hành vi phạm tội của chúng.
- Muốn tiếp xúc, gặp gỡ với cán bộ điều tra
Thông thường, trong hoàn cảnh tố tụng, bị can thường có mâu thuẫn nội tâm do hai khuynh hướng đối lập nhau: vừa muốn tiếp xúc gặp gỡ cán bộ điều tra để thăm dò, tìm hiểu sự hiểu biết của cơ quan điều tra và tiến trình điều tra, vừa muốn né tránh, không gặp gỡ cán bộ điều tra vì sợ bộc lộ “sơ hở”. Nhưng trong điều kiện hiện nay, biểu hiện tâm lý muốn sớm gặp gỡ, tiếp xúc với cán bộ điều tra nổi lên có tính phổ biến. Bị can không còn né tránh, mà mong muốn tiếp xúc, gặp gỡ sớm cán bộ điều tra để đề đạt nguyện vọng cá nhân hoặc tìm hiểu về tâm lý cán bộ điều tra, về những người tiến hành tố tụng và hy vọng “bàn bạc, thoả thuận”  về cách giải quyết những vấn để của bị can.
Biểu hiện tâm lý này xét theo mục đích của bị can là tiêu cực bởi vì mong muốn của bị can hướng tới hy vọng nhằm chạy tội, gỡ tội, bằng những “thoả thuận”, bằng sự “giúp đỡ nào đó" nên bị can sẽ khai báo nhỏ giọt, quanh co. Nhưng về mặt khách quan, điều này phản ánh thái độ của bị can có quan tâm, có hưng phấn hướng tới hoạt động điều tra, là một cơ sở quan trọng để cán bộ điều tra có thể tiến hành những tác động tâm lý tới bị can, phục vụ cho mục đích hỏi cung.
- Trạng thái đau khổ, ân hận
Sau khi bị khởi tố, ở nhiều bị can xuất hiện trạng thái đau khổ, ân hận về hành vi phạm tội của mình. Trạng thái tâm lý này thường xuất hiện ở những bị can có trình độ văn hoá khá, nhất thời phạm tội, phạm tội do lỗi vô ý hoặc phạm tội trong trạng thái bị kích động mạnh ... Đối với những bị can này, sau khi phạm tội thường tự nhận thức được sai lầm của mình, do đó rất ân hận và có mong muốn được sửa chữa, khắc phục phần nào hậu quả. Khi ở vào trạng thái tâm lý này, bị can thường khai báo thành khẩn, nhưng do ân hận, đau khổ về hành vi của mình, tư duy và trí nhớ của họ bị giảm sút nên thường khai báo thiếu lôgíc, thiếu đầy đủ, chính xác. Cán bộ điều tra cần tác động để đưa họ về trạng thái tâm lý ổn định.
- Trạng thái bi quan, chán chường, thất vọng 
Sau khi bị bắt, nhiều bị can bị rơi vào trạng thái tâm lý bi quan chán chường, cho rằng mình đã phạm tội, đã bị bắt là cuộc đời đã hết, không còn tương lai, mọi hy vọng sụp đổ, sự trừng phạt nặng là không tránh khỏi... Do đó có thái độ phó mặc cho số phận, không quan tâm đến hoạt động điều tra. Trạng thái tâm lý này là biểu hiện dạng tâm lý tiêu cực điển hình làm cho bị can không còn hưng phấn với tác động xung quanh. Đối với công tác hỏi cung, trạng thái tâm lý này là rất bất lợi, bị can thường từ chối giao tiếp, từ chối khai báo, do đó khó tiến hành khai thác thông tin từ bị can. Muốn tiến hành hỏi cung được những bị can này, cán bộ điều tra phải bằng mọi cách tác động, đưa họ ra khỏi trạng thái chán chường, thất vọng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê