Mục lục bài viết
1. Chất lượng báo cáo tài chính
1.1 Theo quan điểm của FASB và IASB
IASB và FASB trong khuôn mẫu khái niệm đều nêu rằng, BCTC chất lượng cao đạt được nhờ việc tuân thủ mục tiêu và các đặc tính chất lượng của thông tin BCTC. Các đặc tính chất lượng này là những đặc tính tạo ra tính hữu ích của thông tin, giúp cho người sử dụng thông tin BCTC có thể đưa ra được những quyết định quan trọng dựa trên những thông tin này. Cả FASB và IASB đều đưa ra hai đặc tính cơ bản và bốn đặc tính bổ sung. Nội dung của các đặc tính này theo FASB và IASB đều khá giống nhau.
Hai đặc tính chất lượng cơ bản của thông tin đó là “Tính thích hợp”
(Relevance) và “Trình bày trung thực” hay “Đáng tin cậy” (Reliability)
.png)
- Tính thích hợp: thông tin kế toán được xem là thích hợp nếu nó có thể tạo nên sự khác biệt trong việc ra quyết định của người sử dụng bằng cách giúp họ dự đoán về các kết quả của các sự kiện diễn ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai hoặc để xác nhận hay điều chỉnh dự đoán hoặc các đánh giá trước đây của họ. Để thích hợp, thông tin cần phải được công bố kịp thời, và phải có giá trị dự báo hoặc giá trị xác nhận hoặc cả hai.
- Trình bày trung thực (Đáng tin cậy): Để tin cậy, thông tin cần phải đầy đủ, chính xác, mang tính chất đại diện, có thể kiểm chứng được và ở trạng thái trung lập, không thiên vị.
Ngoài các đặc tính chất lượng cơ bản còn có các đặc tính chất lượng bổ sung, đó là: “Có thể so sánh” (Comparability), “Có thể kiểm chứng” (Verifiability), “Tính kịp thời” (Timeliness) và “Có thể hiểu được” (Understandability).
- Có thể so sánh: Thông tin về một tổ chức kinh tế cụ thể sẽ thực sự hữu ích nếu thông tin đó có thể so sánh được với thông tin tương tự về các tổ chức kinh tế khác hoặc với thông tin tương tự của chính tổ chức đó nhưng vào thời điểm hoặc thời kỳ khác. Sự so sánh giữa các tồ chức kinh tế hoặc tính nhất quán trong việc áp dụng phương pháp so sánh qua thời gian này giúp tăng giá trị hữu ích của thông tin trong việc so sánh các cơ hội kinh tế hoặc tình hình hiệu quả kinh doanh.
- Có thể kiểm chứng: Nếu thông tin có thể kiểm chứng được (ví dụ như thông qua hoạt động kiểm toán) thì sẽ đảm bảo với người dùng rằng thông tin được trình bày trung thực và đáng tin cậy. Thông tin có thể kiểm chứng được nếu như: có sự đồng thuận giữa những người xem xét thông tin khác nhau, đảm bảo phản ánh đúng bản chất của sự kiện kinh tế và có thể xác minh trực tiếp và gián tiếp.
- Tính kịp thời: thông tin cần được cung cấp cho người sử dụng trong một khoảng thời gian hợp lý trước khi thông tin đó trở nên mất giá trị đối với quyết định họ. Nếu thông tin không được cung cấp kịp thời hoặc được cung cấp sau khi xảy ra một sự kiện nào đó sẽ khiến thông tin mất đi tính hữu ích và thậm chí trở nên vô ích.
- Có thể hiểu được: thông tin cần được trình bày gúp người sử dụng thông tin có thể hiểu được ý nghĩa của chúng. Thông tin có thể dễ hiểu hơn nếu được phân loại, làm rõ bàn chất và trình bày rõ ràng.
1.2 Theo quan điểm của VAS
Các đặc điểm chất lượng của thông tin được VAS đề cập trong phần “các yêu cầu cơ bản đối với kế toán” (VAS 01 đoạn 10-15) như sau:
- Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
- Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
- Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ.
- Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh.
- Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch.
Các yêu cầu được nêu trên cần phải được thực hiện đồng thời, không tách rời
nhau.
Ngoài ra, tại đoạn 9 VAS 21 có nêu về việc trình bày BCTC trung thực hợp lý
như sau: “BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các BCTC phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành.” Tại đoạn 12, VAS 21 có nêu, việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bày BCTC phải được thực hiện để phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán. Trong trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo BCTC cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:
a/ Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;
b/ Đáng tin cậy: Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng; trình bày khách quan, không thiên vị; tuân thủ nguyên tắc thận trọng; trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.
2. Chất lượng lợi nhuận
Trong các nghiên cứu trước đây, Chất lượng lợi nhuận thường được các nhà nghiên cứu tìm hiểu theo hai quan điểm khác nhau: (1) quan điểm về sự hữu dụng đối với việc ra quyết định (Decision-usefulness) hay quan điểm dựa trên cơ sở kế toán và (2) quan điểm dựa trên cơ sở thị trường (Economic-based) hay dựa trên tính thích hợp của thông tin kế toán.
Đối với quan điểm thứ nhất, chất lượng lợi nhuận được đánh giá là cao nếu các con số liên quan đến lợi nhuận trên BCTC giúp ích được cho mục đích ra quyết định. Vì thế, khái niệm về chất lượng lợi nhuận khác nhau tùy theo từng đối tượng sử dụng thông tin khác nhau. Theo Dechow and Schrand (2004), các nhà phân tích và các nhà đầu tư thường cho rằng lợi nhuận có chất lượng cao nếu nó phản ánh chính xác tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, giúp họ dự báo được tình hình hoạt động của công ty trong tương lai và kiểm chứng xem giá trị cổ phiếu của công ty có phản ánh được giá trị nội tại của công ty hay không. Mặt khác, các chủ nợ và hội đồng chuyên trách về lương thưởng (compensation committee) lại định nghĩa lợi nhuận chất lượng cao là lợi nhuận có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền và phản ánh được hiệu suất làm việc của các nhà quản lý công ty. Đối với các nhà ban hành luật pháp và chính sách, lợi nhuận có chất lượng cao khi tuân thủ đầy đủ các quy tắc tài chính kế toán, không có sai sót và thể hiện tình hình hoạt động tài chính thực tại công ty (Dechow and Schrand, 2004).
Trên cơ sở kế toán, người sử dụng thông tin BCTC cũng có thể xem chất lượng lợi nhuận nghĩa là “sự thiếu vắng của điều chỉnh lợi nhuận” (absence of earnings management) (Karmarudin and Ismail, 2014). Nếu người quản lý cố tình thao túng lợi nhuận trong phạm vi của các nguyên tắc kế toán, thông tin về lợi nhuận này có thể sẽ không còn hữu ích đối với người sử dụng nữa. Theo Karmarudin and Ismail (2014), các nhà quản lý có rất nhiều lí do để điều chỉnh lợi nhuận như: động cơ thúc đẩy của thị trường vốn, lương thưởng và chế độ phúc lợi, hoặc các hợp đồng vay, nợ; việc điều chỉnh lợi nhuận này có thể sẽ dẫn đến làm giảm chất lượng lợi nhuận. Theo Schipper and Vincent (2003), các hợp đồng nợ được giao kết dựa trên lợi nhuận bị kê thiếu sẽ làm xảy ra việc chuyển giao tài sản không mong muốn, hiệu quả hoạt động của nhà quản lý đánh giá trên lợi nhuận bị khai khống sẽ gây nên việc chi trả lương thưởng quá mức, và lợi nhuận có chất lượng thấp sẽ cung cấp những tín hiệu phân bổ nguồn lực bị khiếm khuyết cho nhà đầu tư.
Quan điểm thứ hai đánh giá chất lượng lợi nhuận dựa trên quan điểm thị trường, nghĩa là đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên định nghĩa về lợi nhuận Hicksian”- tức là lợi nhuận có thể được chi trả thành cổ tức cho các cổ đông mà không làm thay đổi tình hình tài chính cuối kỳ của một công ty so với đầu kỳ (Karmarudin and Ismail, 2014). Ý tưởng này đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên mối liên quan của lợi nhuận được báo cáo với “lợi nhuận thực” của công ty- tức lợi nhuận không chịu ảnh hưởng của các nguyên tắc ghi nhận và thực hiện theo kế toán. Tuy nhiên, theo Schipper and Vincent (2003), “lợi nhuận Hicksian” này không thể quan sát được nên ý tưởng về việc đo lường theo lợi nhuận thực này không có tác dụng. Schipper and Vincent (2003) ủng hộ và tập trung vào việc đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên hai đặc tính chất lượng của kế toán của FASB (1980) là “Tính thích hợp” và “Trình bày trung thực”.
Gần giống với định nghĩa về lợi nhuận Hicksion, Yee (2006) giải thích rằng chất lượng lợi nhuận dựa trên hai yếu tố chính đó là lợi nhuận căn bản (fundamental earning) và lợi nhuận trên báo cáo (reported earning). Lợi nhuận căn bản là lợi nhuận kế toán mà đo lường khả năng thanh toán cổ tức trong tương lai của công ty; còn lợi nhuận trên báo cáo là tín hiệu không hoàn hảo hay ước tính của lợi nhuận căn bản mà một công ty tuyên bố trên BCTC của mình. Yee (2006) cho rằng, chất lượng lợi nhuận liên quan đến độ nhanh chóng và chính xác mà lợi nhuận trên báo cáo của một công ty tiết lộ về lợi nhuận căn bản của công ty đó. Chất lượng lợi nhuận càng cao khi lợi nhuận trên báo cáo có thể thể hiện càng nhanh và chính xác về những biến động của giá trị hiện tại của cổ tức kỳ vọng trong tương lai.
Theo tổng hợp của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), một số nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng đo lường chất lượng lợi nhuận trên cơ sở kế toán giải thích tốt hơn so với đo lường theo cơ sở thị trường về chất lượng lợi nhuận của một công ty; một số nhà nghiên cứu khác lại có quan điểm trái ngược. Trong luận văn này, tác giả sẽ lựa chọn phương pháp đo lường chất lượng lợi nhuận trên cơ sở kế toán.
Phần tiếp theo, tác giả sẽ đề cập đến một số nội dung và mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận trên cơ sở kế toán.
3. Đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở kế toán.
Biến kế toán dồn tích: Các nghiên cứu về chất lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở kế toán sử dụng biến kế toán dồn tích.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (tức báo cáo thu nhập) của doanh nghiệp được lập trên cơ sở dồn tích, nghĩa là các nghiệp vụ kinh tế tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí đều phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh mà không căn cứ vào thời điểm thực thu hoặc thực chi tiền hay các khoản tương đương tiền. Lợi nhuận được xác định trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí phát sinh trong kỳ kế toán. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp được lập trên sơ sở tiền, nghĩa là chỉ được ghi nhận dòng tiền ra và dòng tiền vào trên cơ sở thực chi, thực thu. Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh là chênh lệch giữa dòng tiền chi và thu từ hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Do sự khác biệt giữa cơ sở dồn tích và cơ sở tiền, phần chênh lệch giữa chỉ tiêu “Lợi nhuận sau thuế TNDN” trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và chỉ tiêu “Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh” trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là các khoản dồn tích trong lợi nhuận (Total Accruals - TA) hay biến kế toán dồn tích. Nói cách khác, biến kế toán dồn tích chính là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong BCTC (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016).
TA = Lợi nhuận sau thuế TNDN – Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Biến kế toán dồn tích bao gồm các khoản dồn tích tự định (Non-discretionary accruals – NDA) và các khoản dồn tích không tự định (Discretionary accruals – DA).
TA = NDA + DA
Các khoản dồn tích không tự định là các khoản dồn tích được thực hiện theo các quy định, nguyên tắc của chuẩn mực và chế đệ kế toán. NDA còn gọi là các khoản dồn tích thông thường (normal accruals). Ngược lại, các khoản dồn tích tự định là các khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện và điều chỉnh theo ý muốn để phù hợp với tình hình kinh doanh của công ty. DA còn được gọi là các khoản dồn tích bất thường (abnormal accruals). DA thường được sử dụng để làm méo mó lợi nhuận bằng cách áp dụng các nguyên tắc kế toán hoặc điều chỉnh lợi nhuận (Dechow P., et. al, 2010)
Điều chỉnh lợi nhuận
Điều chỉnh lợi nhuận hay quản trị lợi nhuận (Earning management) thường được dùng để đánh giá và đo lường chất lượng lợi nhuận trên cơ sở kế toán. Đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về điều chỉnh lợi nhuận.
Davidson et al., (1985) đã định nghĩa điều chỉnh lợi nhuận là quá trình cố ý thực hiện, trong khuôn khổ những ràng buộc của GAAP, để đưa ra một mức lợi nhuận theo ý muốn chủ quan. Tương tự như thế, Healy and Wahlen (1999) cho rằng điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý điều chỉnh BCTC và sắp xếp lại thứ tự của các giao dịch để tu chỉnh BCTC nhằm đánh lừa các cổ đông hiểu sai về hoạt động kinh doanh của công ty hoặc để ảnh hưởng đến các hợp đồng có cam kết dựa trên các con số kế toán được báo cáo. Zheng (2003) cho rằng, mục đích của việc điều chỉnh lợi nhuận theo như định nghĩa của Healy and Wahlen (1999) đã cho thấy rằng lợi nhuận bị điều chỉnh thì có chất lượng thấp hơn so với lợi nhuận không bị điều chỉnh. Có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã sử dụng thuật ngữ “chất lượng lợi nhuận” để chỉ ra sự hiện diện của điều chỉnh lợi nhuận (Kamarudin and Ismail, 2014). Theo Levitt (1998), khi hành vi quản trị lợi nhuận gia tăng thì chất lượng của BCTC giảm xuống. Có rất nhiều nguyên nhân cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận, đã được các nhà nghiên cứu trước đây đưa ra như: nhà quản lý điều chỉnh lợi nhuận để tối đa hóa tiền lương, thưởng, phúc lợi của mình; để tránh các điều khoản bất lợi trong khế ước vay nợ hay giảm chi phí vay nợ, tránh vi phạm hợp đồng đi vay; để gian lận chống lại các quy tắc ngành nghề và các quy định khác; để đạt được mục tiêu lợi nhuận đã đặt ra từ trước, san bằng lợi nhuận để đảm bảo xu huớng lợi nhuận bền vững trong dài hạn; để đẩy nhanh quá trình phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu; để đáp ứng kỳ vọng của giới phân tích hoặc khi có thay đổi người quản lý (Kamarudin and Ismail, 2014; Phạm Thị Bích Vân, 2013).
Để điều chỉnh lợi nhuận, các nhà quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng hầu hết được nhóm thành hai nhóm chính là: Điều chỉnh lợi nhuận thực (real earning management)- điều chỉnh thời gian ghi nhận của dòng tiền; và Điều chỉnh lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích (accrual-based earning management)- dựa trên các điều chỉnh được các quy tắc kế toán cho phép thực hiện (Kamarudin and Ismail, 2014; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016).
Theo (Phạm Thị Bích Vân, 2013), điều chỉnh lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích thường được thực hiện qua việc lựa chọn phương pháp và ước tính kế toán như phương pháp ghi nhận doanh thu, chi phí, xác định giá trị hàng tồn kho, phương pháp khấu hao kế toán, các khoản dự phòng hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định, ... Điều chỉnh lợi nhuận thực được thực hiện bằng cách đưa ra một số chính sách nhằm dàn xếp một số giao dịch như chính sách giá và tín dụng để tăng doanh thu; công bố kế hoạch giá cả vào năm sau; cắt giảm các chi phí như chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí bảo trì bảo dưỡng thiết bị,…; bán sớm các khoản đầu tư đang sinh lời để tăng lợi nhuận vào năm hiện tại,…
Theo Cohen and Zarowin (2008), điều chỉnh lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích thường sử dụng những điều chỉnh trên sổ sách kế toán nhờ vào tính linh hoạt của các chuẩn mực, nguyên tắc kế toán, do đó chi phí điều chỉnh thấp và dễ điều khiển hơn. Ngược lại, điều chỉnh lợi nhuận thực có liên quan đến những giao dịch thực tế, cần sự hợp tác của các phòng ban khác nhau trong công ty, do đó sẽ tốn nhiều chi phí hơn và khó thực hiện hơn. Tương tự, Zhang (2012) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận theo biến kế toán dồn tích thường được thực hiện khi các chuẩn mực kế toán có tính linh hoạt và điều chỉnh lợi nhuận thực được thực hiện khi hệ thống luật pháp được đánh giá là tốt. Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều tập trung vào nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận dựa trên các biến kế toán dồn tích (Deangelo, 1986; Jones, 1991; Dechow et al, 1995; Kothari et al, 2005; Dechow and Dichev, 2002,…). Do đó, trong phạm vi thực hiện của luận văn này, phần tiếp theo, tác giả chỉ đề cập đến các mô hình nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận theo biến kế toán dồn tích.
Các mô hình nghiên cứu
Như đã trình bày ở phần trước, TA = NDA + DA trong đó, TA là các khoản dồn tích trong lợi nhuận; DA là các khoản dồn tích tự định và NDA là các khoản dồn tích không tự định. DA thể hiện sự hiện diện của hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Tuy nhiên, vì NDA là các khoản dồn tích được thực hiện theo các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực kế toán nên sẽ dễ dàng đo lường hơn. Vì thế, để xác định DA, các nhà nghiên cứu thường tìm cách tính toán NDA từ số liệu trên các BCTC được công bố.
Một số mô hình đo lường điều chỉnh lợi nhuận tiêu biểu được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như sau:
Mô hình Jones (Jones, 1991)
Jones (1991) đã đưa ra một mô hình nhằm kiểm soát ảnh hưởng của các thay đổi trong tình hình kinh doanh của công ty đối với biến kế toán dồn tích không tự định- NDA. Mô hình của Jones như sau:
NDAit/ Ait-1 = αi (1 / Ait-1) + β1i (ΔREVit / Ait-1) + β2i (PPEit / Ait-1)
Trong đó:
TAit : tổng dồn tích trong năm t của công ty i;
ΔREVit : doanh thu năm t trừ đi doanh thu năm t-1 của công ty i;
PPEit : nguyên giá BĐS, nhà xưởng, máy móc thiết bị trong năm t của công ty i; Ait-1 : tổng tài sản trong năm t-1 của công ty i;
Các tham số α, β1, β2 là ước lượng của các hệ số a, b1, b2 trong mô hình dưới đây:
TAit / Ait-1 = ai (1 / Ait-1) + b1i (ΔREVit / Ait-1) + b2i (PPEit / Ait-1) + εit
Trong mô hình này, ε là phần biến thừa chưa xác định được, bao gồm cả biến dồn tích tự định DA.
Mô hình của Jones (1991) giả định rằng doanh thu là không thể điều chỉnh được. Tuy nhiên, theo Jones (1991), doanh thu cũng có thể bị tác động thông qua việc các nhà quản lý cố tình ghi nhận các khoản doanh thu không đúng niên độ nhằm làm giảm lợi nhuận báo cáo trong kỳ. Như vậy, nếu việc điều chỉnh lợi nhuận xảy ra bằng việc ghi nhận doanh thu sang kỳ sau, mô hình của Jones sẽ mắc phải sai lầm là bỏ qua việc có xảy ra điều chỉnh lợi nhuận.
Mô hình Jones điều chỉnh (Dechow et al., 1995)
Để khắc phục sai sót trong mô hình của Jones (1991), Dechow et al, (1995) đã điều chỉnh mô hình này bằng cách thêm vào biến độ thay đổi của các khoản phải thu thuần trong năm ΔREC. Mô hình Jones điều chỉnh (modified Jones) được các tác giả đưa ra như sau:
NDAit/ Ait-1 = αi(1 / Ait-1) + β1i((ΔREVit - ΔRECit )/ Ait-1) + β2i (PPEit / Ait-1)
Trong đó:
TAit : tổng dồn tích trong năm t của công ty i;
ΔREVit : doanh thu năm t trừ đi doanh thu năm t-1 của công ty i;
ΔRECit : khoản phải thu thuần năm t trừ khoản phải thu thuần năm t-1 của công ty i; PPEit : giá trị thuần BĐS, nhà xưởng, máy móc thiết bị trong năm t của công ty i; Ait-1 : tổng tài sản trong năm t-1 của công ty i;
Trong mô hình Jones điều chỉnh này, các tác giả thêm vào biến ΔREC vì cho rằng, việc điều chỉnh lợi nhuận thông qua doanh thu bán nợ dễ dàng hơn so với điều chỉnh lợi nhuận thông qua doanh thu bằng tiền mặt; do đó, nếu xảy ra điều chỉnh lợi nhuận bằng cách điều chỉnh doanh thu thì sẽ tránh được nguy cơ kết luận là không xảy ra điều chỉnh lợi nhuận như mô hình Jones (1991).
Mô hình đo lường theo kết quả hoạt động (Kothari et al., 2005)
Tiếp tục bổ sung mô hình Jones (1991) và mô hình Jones điều chỉnh (1995), Kothari et al. (2005) đã thêm biến biến tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa biến kế toán dồn tích và kết quả hoạt động của công ty. Mô hình đươc các tác giả nêu ra như sau:
NDAit/ Ait-1 = αi(1 / Ait-1) + β1i(ΔREVit - ΔRECit )/ Ait-1) + β2i (PPEit / Ait-1)
+ β3i (ROAit-1 / Ait-1)
Trong đó: TAit : tổng dồn tích trong năm t của công ty i;
ΔREVit : doanh thu năm t trừ đi doanh thu năm t-1 của công ty i;
ΔRECit : khoản phải thu thuần năm t trừ đi khoản phải thu thuần năm t-1 của công ty i;
PPEit : nguyên giá BĐS, nhà xưởng, máy móc thiết bị trong năm t của công ty i; ROAit-1 : Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản năm t-1 của công ty i;
Ait-1 : tổng tài sản trong năm t-1 của công ty i;
Mô hình của Dechow and Dichev (2002)
Tiếp cận theo một hướng khác so với các nhà nghiên cứu trên, Dechow and Dichev (2002) cho rằng chức năng của các khoản dồn tích là để điều chỉnh thời gian ghi nhận dòng tiền trong thu nhập. Các tác giả đã đưa ra một mô hình trong đó tổng dồn tích ngắn hạn (total current accruals) được đo lường bởi sự thay đổi trong vốn lưu động (working capital) vì việc ghi nhận dòng tiền có liên quan thường chỉ xảy ra trong khoảng thời gian 1 năm. Mô hình như sau:
TCAi,t /Ai,t-1 = α0,i + α1,i(CFOi,t-1 /Ai,t) + α2,i (CFOi,t /Ai,t) + α3,i (CFOi,t+1 /Ai,t)
Trong đó:
TCAit : tổng dồn tích ngắn hạn trong năm t của công ty i với
TCAit = ΔWCit = ∆ AR it + ∆INV it - ∆AP it - ∆TPit + ∆OCA it
ΔWCit : thay đổi trong vốn lưu động;
∆ AR it : thay đổi trong khoản phải thu của công ty i trong năm t;
∆ INV it : thay đổi trong hàng tồn kho của công ty i trong năm t;
∆ AP it : thay đổi trong khoản phải trả của công ty i trong năm t;
∆ TP it : thay đổi trong khoản thuế phải trả của công ty i trong năm t;
∆ OCA it : thay đổi thuần trong các tài sản khác của công ty i trong năm t; Ait-1 : logarit tự nhiên tài sản trung bình trong năm t-1 của công ty I CFOi : dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty i
Như vậy, những nghiên cứu trước đây của các tác giả đều cho rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận có ảnh hưởng lớn đến chất lượng lợi nhuận, cũng như chất lượng BCTC (Zheng, 2003; Levitt, 1998; Kamarudin and Ismail, 2014; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; …). Các mô hình nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận được các nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng rộng rãi như: Mô hình Jones (Jones, 1991), Mô hình Jones điều chỉnh (Dechow et al,1995), mô hình đo lường theo kết quả hoạt động (Kothari et al., 2005), mô hình nghiên cứu của Dechow and Dichev (2002), … trong đó, mô hình được sử dụng nhiều nhất là mô hình Jones điều chỉnh của Dechow et al, 1995. Do đó, tác giả lựa chọn mô hình đo lường theo mô hình Jones điều chỉnh của Dechow et al, 1995 để ước tính biến kế toán dồn tích trong bài viết này.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê