1. Ô nhiễm môi trường biển là gì?

Vấn đề ô nhiễm môi trường biển hiện tại đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn thể cộng đồng thế giới biển và đại dương có vai trò vô cùng to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của con người. Ô nhiễm môi trường biển không chỉ gắn kết với các hoạt động biến đổi của tự nhiên mà còn gắn liền đi đôi với các hoạt động của con người hoạt động của con người, con người có thể trực tiếp làm ô nhiễm môi trường biển hoặc cũng có thể gián tiếp gây ra các hiện tượng tự nhiên làm ô nhiễm môi trường biển, chẳng hạn như việc lư thông hàng hóa trên biển gây tràn dầu hoặc việc phá rừng phòng hộ ven biển, rừng ngập mặn, sử dụng mìn khai thác cá hay từ các sự cố của các tàu thuyền vận chuyển trên biển như tràn dầu…có thể gây ra các tác nhân khiến cho cho môi trường biển trở nên ô nhiễm.

Theo Công ước Luật biển 1982 đã đưa ra khái niệm về ô nhiễm môi trường biển. Ô nhiễm môi trường biển là “việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu  hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả biệc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển .

Như vậy, ô nhiễm môi trường biển có thể hiểu đó là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa bất kì các vật liệu rắn nào được sản xuất hoặc xử lí, đưa vào môi trường biển, có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ sinh thái động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và có thể gây ra trở ngại cho các hoạt động ở biển, làm biến đổi chất lượng nước biển.

2. Các quy định về bảo vệ môi trường biển trong công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982.

Công ước của Liên Hợp quốc về luật biển năm 1982 (UNCLOS) là văn kiện quốc tế tổng hợp, bao quát tất cả những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lí của biển và đại dương, quy định về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia (quốc gia có biển và quốc gia không có biển) đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, cũng như các vùng biển quốc tế với mong muốn làm dễ dàng cho việc sử dụng công bằng và hiệu quả những tài nguyên, việc bảo tồn những nguồn lợi sinh vật của các biển và các đại dương, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.
UNCLOS là công cụ toàn cầu duy nhất áp đặt nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lí đối với các quốc gia trong việc ngăn chặn, giảm thiểu và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển. UNCLOS quy định trách nhiệm của các quốc gia trong việc áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển đây là nghĩa vụ xuất phát từ quyền lợi của các quốc gia ven biển các quốc gia ven biển có quyền khai thác tài nguyên biển nhưng bên cạnh đó thì các quốc gia phải có các chính sách về môi trường để bảo vệ môi trường biển. Các quốc gia được yêu cầu sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ bất kỳ nguồn ô nhiễm nào trong phạm vi quyền tài phán của mình. Mặc dù luật quy định các quốc gia đều có nghĩa vụ như nhau nhưng giữa các quốc gia không có sự phát triển đồng đều về kinh tế và cơ sở kết cấu hạ tầng không giống nhau nên các quốc gia được yêu cầu “tuỳ theo tình hình, thi hành riêng rẽ hay phối hợp với nhau, tất cả các biện pháp phù hợp với Công ước, cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự sự ô nhiễm môi trường biển dù nó bắt nguồn từ đâu. Nhằm mục đích này, các quốc gia tuỳ theo khả năng của mình, sử dụng các phương tiện thích hợp nhất mà mình có, và cố gắng điều hoà các chính sách của mình về mặt này” 2 những quy định pháp luật của quốc gia thông qua không được kém hiệu quả hơn.
Để bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình, Công ước Luật biển 1982 yêu cầu:
Các Quốc gia ven biển phải có trách nhiệm đưa ra các biện pháp chống lại ô nhiễm môi trường biển nảy sinh từ việc sử dụng các kỹ thuật trong khuôn khổ quyền tài phán hay dưới sự kiểm soát của mình, hoặc do du nhập cố ý hay vô tình các loài ngoại lai hoặc mới vào một bộ phận môi trường biển gây ra ở đó những thay đổi đáng kể và có hại và nó cũng bao gồm các ảnh hưởng hoặc các biện pháp trong việc bảo vệ hệ sinh thái hiếm hoi và đe dọa điều kiện cư trú của các loài sinh vật biển khác 3
Các quốc gia được yêu cầu xây dựng các kế hoạch khẩn cấp chống ô nhiễm để đối phó với những tai nạn gây ra ô nhiễm biển trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ
Các điều khoản về giám sát và đánh giá môi trường đặt các quốc gia có nghĩa vụ cần cố gắng hết sức mình trong việc giám sát và đánh giá các ảnh hưởng môi trường của các hoạt động biển được tiến hành dưới quyền tài phán của các quốc gia đó. Họ cũng có nghĩa vụ phải hành động phù hợp nhằm giảm bớt hay ngăn ngừa ô nhiễm có thể xảy ra từ các hoạt động như vậy 
Các quốc gia ven biển phải xác định các nguồn ô nhiễm của mình, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát chúng. Các quốc qua không được đùn đẩy thiệt hại của các nguy cơ ô nhiễm và không được thay thế một kiểu ô nhiễm này bằng một kiểu
ô nhiễm khác.
Các luật, quy định và các biện pháp của các quốc gia thông qua không được kém hiệu quả hơn các nguyên tắc và quy phạm quốc tế hay các tập quán và thủ tục đã được kiến nghị có tính chất quốc tế. Các quốc gia phải quan tâm làm sao cho luật trong nước của mình có những hình thức tố tụng cho phép thu được sự đền bù nhanh chóng và thích đáng, hay sự bồi thường khác đối với những thiệt hại nảy sinh từ ô nhiễm môi trường biển do tự nhiên nhân, hay pháp nhân thuộc quyền tái phán của mình gây ra. 6
Các quốc gia cần phải hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế theo khả năng để lọa trừ ô nhiễm và bảo vệ môi trường biển.Các quốc qia phải có nghĩa vụ thông báo cho các quốc gia khác về nguy cơ bị ô nhiễm lan tràn đến và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, để kọp thời có những biện pháp ngăn chặn và bảo vệ 7 .
UNCLOS qui định các quốc gia có trách nhiệm quan tâm đến việc hoàn thành các nghĩa vụ quốc tế của mình về vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Quốc gia quan tâm làm sao cho luật trong nước của mình có được những hình thức tố tụng cho phép thu được sự đền bù nhanh chóng và thích đáng. Để bảo đảm một sự đền bù nhanh chóng và thích đáng mọi thiệt hại nảy sinh từ ô nhiễm môi trường biển, các quốc gia cần hợp tác để bảo đảm áp dụng và phát triển luật quốc tế về trách nhiệm có liên quan đến việc đánh giá và bồi thường các thiệt hại và việc giải quyết các tranh chấp về mặt này, cũng như, nếu có thể, đến việc soạn thảo các tranh chấp và thủ tục để thanh toán tiền bồi thường thích đáng, chẳng hạn trù định một khoản bảo hiểm bắt buộc các quỹ bồi thường.
Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra năm 1973/1978.
Công ước MARPOL 73/78 thiết lập một cơ chế quốc tế nhằm ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu do hoạt động xả thải trong quá trình vận hành thông thường và các sự cố ô nhiễm bất ngờ Mục tiêu của công ước là chấm dứt hoàn toàn việc chủ ý làm ô nhiễm môi trường biển do dầu và các chất độc hại khác, và giảm thiểu việc thải ngẫu nhiên các chất đó ra biển. Phụ lục V của công ước quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do rác thải từ tàu (có hiệu lực từ ngày 31/12/1988).Các quốc gia thành viên phải tuân thủ các cam kết trong chính công ước và các phụ lục của công ước mà họ tham gia, Công ước  MARPOL 73/78 được sửa đổi vào năm 2016 quy định các thuyền đánh cá phải có kế hoạch thu gom, chứa, xử lí và thải rác...

3. Các yếu tố cơ bản gây ảnh hưởng tới môi trường biển.

Yếu tố đầu tiên trực tiếp gây ra sự ảnh hưởng tới biển là con người vùng ven biển là vùng rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên chưa đựng tiềm năng về kinh tế, kinh tế phát triển dẫn tới tình trạng gia tăng dân số và hình thành thói quen sử dụng lãnh phí tài nguyên và mật độ dân số nhà máy cao dẫn đến việc ô nhiễm môi trường đất nước ven biển....lối sống trình độ dân trí của ng dân vùng biển còn thấp vấn đề bảo vệ môi trường biển vẫn không được quan tâm.
Yếu tố thứ hai là do các hoạt động trên biển như hàng hải, vận chuyển hàng hóa, nuôi trồng đánh bắt hải sản, du lịch biển, nhận chìm tàu và các sự cố môi trường khác.....
Thứ ba là do các yếu tố tự nhiên như các vi sinh vật gây hại có trong biển hay hoạt động của địa chất núi lửa phun trà, sóng thần...Sự đứt gayc của vỏ trái đất làm rò rỉ những mỏ dầu ở đáy đại dương. Không khí ô nhiễm sự gia tăng nhiêt độ của trái đất do hiệu ứng nhà kính đã kéo theo sự dâng cao của mực nước biển làm thay đổi môi trường sinh thái.

4. Bảo vệ da dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển.

Pháp luật Việt Nam về bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển đã tiếp cận theo hướng hệ sinh thái và phát triển bền vững. Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo chiến lược đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, ứng phó với biển đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa. Việc xây dựng chiến lược phải dựa trên tiềm năng tài nguyên biển và hải đảo; kết quả điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh việc thiết lập và quản lý khu bảo tồn biển. Các khu bảo tồn biển có thể được quản lý theo hệ thống các quy định của Luật Đa dạng sinh học hoặc Luật Bảo vệ và phát triển rừng....Bảo tồn các loài sinh vật biển quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ.

5. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển.

Kiểm soát môi trường biển được hiểu là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường biển. Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo năm 2015, Bộ luật Hàng hải năm 2015, Luật Dầu khí năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 2008, Luật Du lịch năm 2005, Luật Thủy sản năm 2017 và các văn bản hướng dẫn, quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đều dựa quy định dựa trên nguyên tắc baoe vệ môi trường phải lấy phòng ngừa là chính.
Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, bao gồm các quy định về nguyên tắc, nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động trên biển, từ đất liền và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển xuyên biển giới; các công cụ, biện pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đào. Ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển. Nhận chìm ở biển quy định các yêu cầu đối với việc nhận chìm và vật, chất nhận chìm ở biển cũng như quy định về cấp, gia hạn, sửa đổi.