1. Mục đích, nguyên tắc thống kê, kiểm kê đất đai

1.1 Mục đích của thống kê đất đai

Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội đã làm cho nhu cầu sử dụng đất đai ở các mục đích luôn có sự thay đổi. Do vậy để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho sự phát triển đó đồng thời nhà quản lý cũng phải biết được tình hình biến động về đất đai, muốn vậy chúng ta phải tiến hành hoạt động thống kê đất đai, hiện nay công tác này đã và đang được chú trọng và hoàn thiện hơn
Do vậy mục đích của thống kê đất đai là:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; làm căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo.
- Xây dựng tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xác định nhu cầu sử dụng đất đáp ứng cho việc thực hiện chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, của các ngành, các địa phương; thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm (05) năm và hàng năm của Nhà nước.
- Đề xuất việc điều chỉnh chính sách, pháp luật, quy hoạch về đất đai.
- Công bố số liệu về đất đai trong niên giám thống kê quốc gia; phục vụ nhu cầu sử dụng dữ liệu về đất đai cho quản lý nhà nước, hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, nghiên cứu khoa học, giáo dục - đào tạo và các nhu cầu khác của cộng đồng.

1.2 Nguyên tắc thực hiện công tác thống kê, kiểm kê đất đai

- Việc thu thập số liệu trong thống kê đất đai được thực hiện trực tiếp từ hồ sơ địa chính trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã.
Việc thu thập số liệu trong kiểm kê đất đai được thực hiện trực tiếp từ thực địa đối chiếu với hồ sơ địa chính trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã.
- Việc thu thập số liệu trong thống kê đất đai trên địa bàn đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả nước được tổng hợp từ số liệu thu thập trong thống kê đất đai của các đơn vị hành chính trực thuộc. Việc thu thập số liệu trong thống kê đất đai trên địa bàn các vùng lãnh thổ được tổng hợp từ số liệu thu thập trong thống kê đất đai của các tỉnh thuộc vùng lãnh thổ đó.
- Việc thu thập số liệu trong kiểm kê đất đai trên địa bàn đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả nước được tổng hợp từ số liệu thu thập trong kiểm kê đất đai của các đơn vị hành chính trực thuộc. Việc thu thập số liệu trong kiểm kê đất đai trên địa bàn các vùng lãnh thổ được tổng hợp từ số liệu thu thập trong kiểm kê đất đai của các tỉnh thuộc vùng lãnh thổ đó.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp xã được lập trên cơ sở tổng hợp bản đồ địa chính của xã đó có đối soát với số liệu kiểm kê đất đai.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp huyện và cấp tỉnh được tổng hợp từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất của các đơn vị hành chính trực thuộc. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của vùng lãnh thổ được tổng hợp từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất của các tỉnh thuộc vùng lãnh thổ đó. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của cả nước được tổng hợp từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất của các vùng lãnh thổ.
- Tổng diện tích các loại đất theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai phải bằng diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai; trường hợp diện tích tự nhiên theo số liệu thống kê, kiểm kê khác với diện tích tự nhiên đã công bố thì phải giải trình rõ nguyên nhân.
- Số liệu thống kê đất đai phải phản ảnh đầy đủ tình trạng sử dụng đất thể hiện trong hồ sơ địa chính; số liệu kiểm kê đất đai phải phản ảnh đầy đủ hiện trạng sử dụng đất thực tế; diện tích đất đai không được tính trùng, không được bỏ sót trong số liệu thống kê, kiểm kê đất đai; số liệu đất đai thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất phải thống nhất với số liệu kiểm kê đất đai tại thời điểm kiểm kê.
- Diện tích đất trong các biểu thống kê, kiểm kê đất đai được xác định theo mục đích hiện đang sử dụng có ghi nhận mục đích theo quy hoạch sử dụng đất; đối với các thửa đất đang sử dụng vào nhiều mục đích thì ghi theo mục đích sử dụng chính; diện tích đất trong các biểu thống kê, kiểm kê đất đai được xác định rõ diện tích thuộc khu đô thị và diện tích thuộc khu dân cư nông thôn.

2. Lưu trữ số liệu thống kê, kiểm kê đất đai

- Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai của cấp xã được lưu tại xã và VPĐK quyền sử dụng đất thuộc Phòng TN & MT.
- Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai in trên giấy của cấp huyện được lưu tại VPĐK quyền sử dụng đất cùng cấp và VPĐK quyền sử dụng đất thuộc Sở TN & MT; kết quả thống kê, kiểm kê đất đai dạng số được lưu tại VPĐK quyền sử dụng đất cùng cấp, VPĐK quyền sử dụng đất thuộc Sở TN & MT và Bộ TN & MT.
- Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai in trên giấy và dạng số của cấp tỉnh được lưu tại VPĐK quyền sử dụng đất cùng cấp và Bộ TN & MT.
- Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai in trên giấy và dạng số của các vùng lãnh thổ và cả nước được lưu tại Bộ TN & MT.
- Việc quản lý và cung cấp dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai và bản đồ hiện trạng sử dụng đất được thực hiện như việc quản lý và cung cấp dữ liệu hồ sơ địa chính quy định tại Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Bộ TN & MT về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.

3. Yêu cầu, đặc điểm và hình thức thống kê đất đai

3.1 Yêu cầu của thống kê đất đai

- Chính xác
Yêu cầu này đòi hỏi các số liệu điều tra thu thập được phải phản ánh trung thực tình hình khách quan, không trùng lắp, thiếu, thừa, không tuỳ tiện thêm bớt. Yêu cầu chính xác cũng đòi hỏi khi xác định chỉ tiêu loại đất đai và loại đối tượng sử dụng đất phải đúng với hướng dẫn quy định, đồng thời còn cần phải tính toán tổng hợp biểu mẫu chính xác làm căn cứ tin cậy cho việc phân tích thống kê và xây dựng kế hoạch.
- Đầy đủ
Thu thập tài liệu, số liệu đúng với nội dung quy định, không bỏ sót chỉ tiêu loại đất nào, chủ sử dụng nào, thửa đất nào. Yêu cầu này cũng đòi hỏi phải tổng hợp đầy đủ các biểu mẫu theo quy định.
- Kịp thời
Điều tra, thu thập đúng thời điểm, tổng hợp và nộp các biểu mẫu báo cáo đúng thời gian quy định. Có như vậy số liệu mới phát huy được tác dụng cao và có cơ sở đề xuất các chủ trương, biện pháp đúng đắn phù hợp thực tế khách quan.
Ba yêu cầu trên đây đều quan trọng và luôn bổ sung cho nhau. Tuỳ điều kiện cụ thể từng nơi, từng lúc mà đề ra mức độ cụ thể cho từng yêu cầu để đạt được các mục đích của mỗi kỳ thống kê.

3.2 Đặc điểm cơ bản của thống kê đất đai

- Đặc điểm cơ bản nhất của thống kê đất đai là phải dựa trên cơ sở bản đồ. Thống kê đất đai muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đo đạc lập bản đồ để tính diện tích. Thửa đất tuy có vị trí cố định nhưng trong quá trình sử dụng do tác động của con người và thiên nhiên luôn có biến động về loại đất, chủ sử dụng và hình thể..vì vậy cần thường xuyên chỉnh lý bản đồ, sổ sách địa chính cho phù hợp với thực địa.
- Đặc điểm thứ hai là số liệu thống kê đất đai có ý nghĩa pháp lý chặt chẽ. Số liệu thống kê phải gắn liền với cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất đối với từng thửa đất cụ thể, công tác thống kê muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đăng ký đất. Kết quả công tác đăng ký đất càng tốt và sự phối hợp thực hiện các nội dung nhiệm vụ quản lý đất càng đồng bộ thì giá trị pháp lý của số liệu thống kê đất càng nâng cao.
Các đặc điểm trên làm cho việc thực hiện công tác thống kê đất cần nhiều lao động, vật tư, kỹ thuật, thời gian, kinh phí.. người làm công tác thống kê đất phải được đào tạo có trình độ chuyên môn đầy đủ mới có thể thực hiện được. Đặc điểm này đã quyết định chỉ có ngành địa chính mới có thể thực hiện được công tác thống kê một cách chính xác, khoa học và đầy đủ.

3.3 Các hình thức thống kê đất đai

Để thực hiện mục đích đã đề ra, ở nước ta hiện nay có hai hình thức thống kê đất đai:

3.3.1 Báo cáo thống kê định kỳ

Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức thống kê đất đai thường xuyên, định kỳ theo nội dung, phương pháp, chế độ báo cáo đã quy định thống nhất.
Điều tra thống kê chuyên về đất là hình thức tổ chức điều tra thống kê đất đai không thường xuyên, được tiến hành theo một kế hoạch, nội dung, phương pháp quy định riêng cho mỗi lần điều tra.
Hình thức này áp dụng khi chưa có quy định về báo cáo thống kê định kỳ và khi cần nghiên cứu sâu về một nội dung nào đó mà trong báo cáo định kỳ không có.

4. Phương pháp thống kê đất đai

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để thu thập tư liệu hình thành nên các số liệu thống kê về đất đai. Tuỳ theo điều kiện về nguồn dữ liệu và khẳ năng thu thập thông tin, các số liệu thống kê về đất đai sẽ được hình thành bằng phương pháp tiếp cận trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp.

4.1 Phương pháp thống kê trực tiếp

Phương pháp thống kê trực tiếp là phương pháp hình thành nên các số liệu thống kê về đất đai dựa trên kết quả đo đạc, lập bản đồ và đăng ký đất đai. Như vậy, điều kiện để thực hiện thống kê trực tiếp là phải có các hồ sơ địa chính; các căn cứ và cơ sở để thực hiện thống kê là cácơ bảnản đồ và hồ sơ địa chính được hình thành và cập nhật ở các cấp cơ sở, nên công việc thống kê phải được tiến hành trình tự từ cấp xã trở lên.
Thống kê đất đai từ kết quả đăng ký đất ban đầu ở các xã, phường đã thực hiện đăng ký, cấp GCNQSD đất thì các dữ liệu phục vụ thống kê đất coi như đã có đầy đủ. Căn cứ để thực hiện thống kê là “Sổ mục kê đất” đã được kiểm tra và nghiệm thu. Căn cứ vào các số liệu tổng hợp trong các biểu ở cuối sổ mục kê đất để sao chép và tổng hợp thành số liệu phù hợp với các thông tin yêu cầu trong các biểu thống kê đất.
Đối với các xã có thời điểm đăng ký đất đai ban đầu cách xa thời điểm thống kê, trong khoảng thời gian đó trên thực tế có một số biến động về đất đai nhưng trong sổ sách, hồ sơ địa chính và bản đồ chưa được cập nhật kịp thời, các số liệu chưa được điều chỉnh và các biến động thường xuyên chưa được theo dõi..thì các dữ liệu trong hồ sơ địa chính không phù hợp với thực địa. Trong trường hợp này, trước khi thực hiện thống kê đất đai phải tổ chức chỉnh lý bản đồ sổ sách bằng cách: mang bản đồ ra thực địa đối chiếu, chỉnh lý hình thể, loại đất, đo đạc và tính lại diện tích; sau đó chỉnh lý lại sổ sách đối với các thửa đất có biến động về hình thể, diện tích, loại đất, mục đích sử dụng, chủ thể sử dụng..và tổng hợp lại trong sổ mục kê đất. Các dữ liệu ở sổ mục kê đất sau khi được chỉnh lý phù hợp với hiện trạng sử dụng đất mới được đưa vào các biểu thống kê đất. Những số liệu về sự biến động đất đai thu được sau khi điều chỉnh sẽ được đưa vào biểu thống kê tình hình biến động đất đai.

4.2 Thống kê đất đai qua kết quả đăng ký biến động thường xuyên sau đăng ký ban đầu

Việc đăng ký, quản lý biến động thường xuyên về đất đai là nguồn tư liệu hết sức quan trọng để thực hiện thống kê số lượng và thống kê biến động đất đai giữa hai thời kỳ. Căn cứ trực tiếp để thực hiện thống kê biến động về đất đai là sổ theo dõi biến động đất đai cấp xã, phường. Trước khi tiến hành thống kê, cần phải kiểm tra, rà soát lại bản đồ, sổ sách địa chính đối chiếu với thực địa để phát hiện những bỏ sót biến động thực tế chưa được chỉnh lý, phản ánh trên bản đồ và sổ sách. Trên thực tế có nhiều biến động về loại đất, mục đích sử dụng, chủ thể sử dụng những người sử dụng đất không khai báo và đăng ký biến động. Những biến động này cần được chú ý điều chỉnh khi đối chiếu bản đồ và sổ sách địa chính với thực địa trước khi tiến hành các công việc thống kê.
Sau khi có đầy đủ các thông tin về tình hình biến động đất đai giữa hai kỳ thống kê, tiến hành phản ánh tất cả các thông tin về biến động mỗi loại đất vào bảng theo dõi biến động đất đai, tổng cộng các dòng và các cột để được các số liệu về biến động tăng và giảm trong kỳ. Sau khi có đầy đủ các số liệu về biến động tăng và giảm của từng loại đất cần thống kê, tiến hành lập bảng thống kê tình hình biến động đất đai giữa hai kỳ điều tra. Các số liệu ở cột đầu kỳ được lấy từ bảng số liệu thống kê kỳ trước; các số liệu ở cột biến động tăng, giảm được lấy từ bảng theo dõi biến động đất đai trong kỳ, số liệu ở cột số liệu cuối kỳ được tính từ số liệu của ba cột trước.
DT cuối kỳ = DT đầu kỳ + DT tăng trong kỳ – DT giảm trong kỳ.

5. Thống kê đất đai từ kết quả đo đạc, lập bản đồnhưng chưa đăng ký ban đầu

, chưa cấp GCNQSD đất

Có những vùng, toàn bộ diện tích đất đai đã được đo đạc, lập bản đồ nhưng chưa được tổ chức cấp GCNQSD đất. Trong trường hợp này, để có số liệu đưa vào biểu mẫu thống kê cần thực hiện lập sổ mục kê tạm thời để tổng hợp các thông tin từ các bản đồ đã đo đạc. Nếu có những biến động đất đai từ khi đo đạc lập bản đồ đến khi lập sổ mục kê tạm thời thì cần đối chiếu để điều chỉnh các thông tin trên bản đồ cho phù hợp với thực địa rồi mới lập sổ mục kê tạm thời. Những số liệu thống kê thu được qua việc lập sổ mục kê tạm thời chỉ phản ánh được hiện trạng về quỹ đất và quá trình sử dụng đất chứ chưa có đủ cơ sở pháp lý về chủ sử dụng đất cũng như mục đích sử dụng đất.
Những phương pháp thống kê trực tiếp như trên có những ưu điểm nổi bật là cung cấp cho chúng ta số liệu thống kê khá chính xác, được thiết lập từ cấp cơ sở và phù hợp với những biến động đất đai trên thực địa. Tuy nhiên, với các nguồn thông tin ban đầu, các tài liệu hồ sơ địa chính không đầy đủ, hoặc công tác thống kê không đủ điều kiện để tiến hành đồng loạt từ cấp cơ sở mà chỉ tổng hợp để các thông tin về một vài loại đất nào đó phục vụ cho một mục đích chuyên biệt thì phương pháp thống kê trực tiếp không thể áp dụng được. Trong trường hợp này, người ta phải sử dụng phương pháp thống kê gián tiếp.

6. Phương pháp thống kê gián tiếp

Phương pháp thống kê gián tiếp là phương pháp dựa trên các nguồn số liệu trung gian sẵn có để tính toán ra các số liệu thống kê đất đai. Phương pháp này nhìn chung không chính xác và thiếu cơ sở pháp lý. Tuy vậy nó là phương pháp duy nhất để xác định được các số liệu thống kê về đất đai đối với những nơi chưa có điều kiện đo đạc lập bản đồ , hoặc các các thông tin biến động trong kỳ không được đăng ký, quản lý, theo dõi và cập nhật. Nó cũng là phương pháp được sử dụng để xác định các số liệu thống kê của một vùng hoặc trong cả nước mà không cần, hoặc không có điều kiện tiến hành tuần tự các bước thống kê trực tiếp từ cấp cơ sở.
Phương pháp thống kê gián tiếp phải sử dụng các thông tin nhiều nguồn số liệu khác nhau. Nguyên tắc chung cho các việc khai thác các thông tin từ nhiều nguồn số liệu khác nhau là :
+ Phải kiểm tra hoàn thiện số liệu để loại bỏ các số liệu bất hợp lý, các số liệu không đủ tin cậy, những số liệu mâu thuẫn giữa các nguồn khác nhau.
+ ưu tiên sử dụng các nguồn số liệu có chất lượng cao, có độ tin cậy và được da số các nghành tin dùng
+ Phải khống chế và cân đối các loại đất đai trong vùng bằng tổng diện tích tự nhiên trong địa giới hành chính vẫn được sử dụng từ trước đến nay, hoặc diện tích tính được dựa trên bản đồ địa giới.
Các nguồn thể sử dụng làm căn cứ tính toán:
+ Biểu thống kê diện tích đất đai của kỳ báo cáo trước. Nguồn số liệu này thường được sử dụng làm cơ sở gốc để tính toán. Trên cơ sở số liệu gốc, căn cứ vào các số liệu biến động của từng loại đất để chỉnh lý số liệu gốc thành sử dụng của kỳ báo cáo.
Những số liệu bổ sung để chỉnh lý là:
+ Số liệu giao đất theo Nghị định 64/CP và Nghị định 02/CP.
+ Số liệu kiểm kê, thống kê rừng.
+ Số liệu thu thuế sử dụng đất.
+ Số liệu giao đất ở, đất chuyên dùng.
+ Số liệu khai hoang và đưa vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.
+ Các nguồn số liệu khác liên quan đến quỹ đất đai các loại.
Sau khi thu thập được các nguồn số liệu về biến động diện tích các loại đất trong kỳ, tiến hành lập bảng cân đối biến động đất đai để tính diện tích đất đai các loại của kỳ báo cáo.

7. Nội dung thống kê, kiểm kê đất đai

7.1 Nội dung thống kê, kiểm kê đất đai

Thu thập số liệu về diện tích đất đai theo mục đích sử dụng và theo đối tượng sử dụng, số liệu về đối tượng sử dụng đất trên địa bàn từng đơn vị hành chính.Xử lý, tổng hợp, phân tích các số liệu thu thập được để rút ra kết luận đánh giá về tình hình hiện trạng sử dụng đất, tình hình và nguyên nhân biến động đất đai giữa các kỳ thống kê, kiểm kê đất đai; đề xuất kiến nghị các biện pháp, chính sách quản lý sử dụng đất đai cho phù hợp với thực tiễn.
Lập báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai.Lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất để thể hiện hiện trạng sử dụng đất vào các mục đích tại thời điểm kiểm kê đất đai.

7.2 Nội dung báo cáo kết quả thống kê, kiểm kê đất đai

Báo cáo kết quả thống kê đất đai bao gồm các nội dung sau:Tình hình tổ chức thực hiện, phương pháp thu thập số liệu thống kê đất đai, nguồn gốc số liệu thu thập tại cấp xã, độ tin cậy của số liệu thu thập và số liệu tổng hợp, các thông tin khác có liên quan đến số liệu;Thuyết minh kết quả thống kê đất đai gồm việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tình hình biến động và phân tích nguyên nhân biến động về sử dụng đất từ kỳ thống kê gần nhất và từ kỳ kiểm kê gần nhất đến kỳ thống kê này; tình hình tranh chấp địa giới hành chính và số liệu thống kê đối với phần diện tích đất đang tranh chấp (nếu có); kiến nghị biện pháp tăng cường quản lý sử dụng đất đai.
Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai bao gồm các nội dung sau:Tình hình tổ chức thực hiện, phương pháp thu thập số liệu kiểm kê đất đai, nguồn gốc số liệu thu thập tại cấp xã, độ tin cậy của số liệu thu thập và số liệu tổng hợp, các thông tin khác có liên quan đến số liệu; phân tích sự khác nhau giữa số liệu trong hồ sơ địa chính và số liệu thu thập trên thực địa; nguồn tài liệu và phương pháp xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;Thuyết minh kết quả kiểm kê đất đai gồm đánh giá hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tình hình biến động và phân tích nguyên nhân biến động về sử dụng đất từ kỳ kiểm kê của mười (10) năm trước và kỳ kiểm kê của năm (05) năm trước đến kỳ kiểm kê này; đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất giữa các kỳ kiểm kê; tình hình tranh chấp địa giới hành chính và số liệu kiểm kê đối với phần diện tích đất đang tranh chấp (nếu có); kiến nghị biện pháp tăng cường quản lý sử dụng đất đai.