1. Khái niệm về công bố thông tin tài chính:

Theo quan điểm của Bộ tài chính, công bố thông tin tài chính được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin tài chính một cách công bằng và đồng thời.
Một số vấn đề về chỉ số công bố thông tin tài chính?

2. Yêu cầu chung về công bố thông tin tài chính:

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01, việc công bố thông tin tài chính phải đảm bảo những tính chất sau:
- Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
- Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
- Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ.
- Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng.
- Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạc

3. Phân loại công bố thông tin tài chính:

Công bố thông tin tài chính bao gồm hai loại là công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện. Cụ thể như sau:
- Công bố thông tin bắt buộc: Theo nghiên cứu của Healy và cộng sự (2001), công bố thông tin bắt buộc được quy định bởi các cơ quan quản lý ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Mục đích của việc ban hành các quy định bắt buộc trong việc công bố thông tin là để bảo vệ lợi ích cho người sử dụng thông tin tài chính. Các định chế nhằm mục đích phân chia lại lượng thông tin tối thiểu giữa người sử dụng thông tin tài chính được thông báo và người không được thông báo ( Healy và công sự, 1999)
- Công bố thông tin tự nguyện: Một số nghiên cứu định nghĩa công bố thông tin tự nguyện là sự đối lập của công bố thông tin bắt buộc (Luez và cộng sự, 2008; Yu, 2001).
Công bố thông tin bắt buộc đôi khi không thể đáp ứng hết các yêu cầu của người sử dụng thông tin tài chính. Vì vậy, việc sử dụng thông tin tự nguyện để có thể chuyển đến người sử dụng những thông tin tài chính tốt nhất ( Healy và cộng sự, 2001). Do đó, công bố thông tin tự nguyện liên quan đến những thông tin bổ sung, tùy thuộc vào sự quyết định của ngân hàng thương mại cổ phần. Người sử dụng thông tin tài chính cần được cảnh báo khi thông tin tài chính bắt buộc công bố không phù hợp và các nhà quản lý bắt đầu sử dụng thông tin tài chính tự nguyện khi họ xem xét lợi ích của chính họ ( Akhtaruddin, 2005)

4. Đo lường mức độ công bố thông tin tài chính:

Theo nghiên cứu của Healy và Palepu (2001), các nghiên cứu về mức độ công bố thông tin thường gặp hạn chế về đo lường mức độ công bố thông tin tài chính. Các lý thuyết hiện chấp nhận đa dạng cách tiếp cận về đo lường mức độ công bố thông tin tài chính. Chẳng hạn như nghiên cứu của Beatie, McInnes và Fearnley (2004) cho rằng có hai cách tiếp cận khác nhau trong việc đo lường mức độ công bố thông tin tài chính là loại chủ quan và nửa khách quan. Tuy nhiên, cách tiếp cận chủ quan sẽ gây ảnh hưởng đến đến giá trị nghiên cứu. Vì vậy cách tiếp cận khách quan đang được dần phát triển và áp dụng rộng rãi. Bằng cách liệt kê các mục, nhóm dữ liệu được công bố, các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương thức này trong việc đo lường mức độ công bố thông tin tài chính ( Marson và Shrives, 2001). Các nhà nghiên cứu mặc định rằng một mức độ cao hơn về chất lượng thông tin thì mức độ công bố thông tin nhiều hơn. Việc đo lường mức độ công bố thông tin tài chính đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu khoa học. Đồng thời, mức độ công bố thông tin tài chính là một phạm trừu khá trừu tượng bởi nó không có đặc điểm nổi bật dùng để đo lường đánh giá về mức độ công bố thông tin tài chính và cũng để định hướng cho việc mức độ công bố thông tin tài chính trong tương lai, cần thiết phải vạch ra một chuẩn mực tin cậy về mức độ công bố thông tin tài chính. Điều này sẽ phần nào làm giảm đi sự thiếu hiệu quả của thị trường vốn, giảm thiểu sự nhiễu loạn giữa người công bố thông tin và đối tượng sử dụng ( Adina và Ion, 2008).
Có ba cách đo lường mức độ công bố thông tin tài chính mà các nhà nghiên cứu trước đây sử dụng. Cách thứ nhất là thuật toán dựa vào cơ sở dữ liệu điều tra AIMR (Association for Investment Management and Research) hoặc FAF (Financial Analysts Federation). Cách thứ hai là dựa vào dự báo quản trị của công ty. Cách cuối cùng là tự đo lường. Để lượng hóa chính xác mức độ công bố thông tin tài chính trong báo cáo tài chính, các nghiên cứu đã thực hiện qua hai bước cơ bản sau:
Trước tiên các nhà nghiên cứu xây dựng một thang chuẩn đã được thực hiện trong các nghiên cứu đi trước khác nhau phụ thuộc vào yêu cầu công bố của mỗi quốc gia, trình độ phát triển thị trường vốn và nhận định chủ quan của nhà nghiên cứu. Vấn đề này đã được thống kê trong nghiên cứu của Yuan Dinh, Linghui Fu, Herve Stolowy và Huiwen Wang (2004 ). Số chỉ mục thông tin được lựa chọn để nghiên cứu không giống nhau mặc dù có những nghiên cứu cùng hướng đến một đối tượng nhưng thông tin tài chính công bố là tự nguyện hay bắt buộc thì số mục cũng có khác biệt lớn.
Sau đó, các nhà nghiên cứu dùng thang chuẩn đã xây dựng để mã hóa từng chỉ mục thông tin tài chính trong mỗi quan sát. Việc đo lường hay mã hóa theo thang chuẩn được xây dựng cũng tồn tại những cách tiếp cận khác nhau. Thông thường, có ba phương án được tiếp cận để đo lường là : đo lường không trọng số, đo lường có trọng số và đo lường hỗn hợp.

5. Chỉ số công bố thông tin tài chính

Đây là công cụ nghiên cứu để đo lường mức độ công bố thông tin tài chính trong các tài liệu cụ thể theo một danh sách các mục thông tin tài chính đã được lựa chọn. Các loại thông tin tài chính được lựa chọn bao gồm thông tin bắt buộc hoặc thông tin tự nguyện hoặc cả hai. Số lượng các khoản mục thông tin tài chính có thể từ vài khoản mục đến vài trăm khoản mục tùy vào từng nghiên cứu.
Để đo lường chỉ số công bố thông tin tài chính, các nghiên cứu trước đây thường sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp đo lường không trọng số: Theo phương pháp này, điều quan trọng là các thông tin tài chính có được công bố trên báo cáo tài chính hay báo cáo thường niên hay không. Nếu mục thông tin được công bố sẽ gán giá trị là 1, ngược lại nếu không công bố sẽ nhận giá trị là 0. Phương pháp đo lường không trọng số: Theo phương pháp này, điều quan trọng là các thông tin tài chính có được công bố trên báo cáo tài chính hay báo cáo thường niên hay không. Nếu mục thông tin được công bố sẽ gán giá trị là 1, ngược lại nếu không công bố sẽ nhận giá trị là 0
Phương pháp đo lường theo trọng số: Phương pháp này khác với phương pháp đo lường không trọng số. Phương pháp này yêu cầu các mục thông tin tài chính được chọn lọc cùng với việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chỉ mục là thấp hay cao. Từ đó, một hệ thống trọng số phản ánh mức độ quan trọng của từng thông tin được xây dựng song song với danh sách các mục thông tin tài chính trong thang chuẩn. Việc đo lường được thực hiện như là đo lường không trọng số nhưng sau khi được gán giá trị, chúng lại được nhân với trọng số đã được xây dựng trước đó.
Phương pháp đo lường hỗn hợp: Là sự kết hợp của hai phương pháp đo lường có trọng số và không trọng số. Việc đo lường mức độ công bố thông tin dựa trên xây dựng ba chỉ số công bố: chỉ số chất lượng, chỉ số phạm vi, chỉ số về số lượng. Mỗi chỉ số xây dựng dựa trên phương pháp trọng số như chỉ số SCI ( Scope index ) sẽ được gán là 0 nếu không được công bố; được gán là 0.5 nếu công bố là định tính, được gán là 1 nếu công bố là định lượng và phương pháp không trọng số như chỉ số COV ( Coverage dimension), ESM ( Economic sign and measure index ), OLT ( Outlook, profile index),…
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp có trọng số và phương pháp hỗn hợp là yếu tố chủ quan của mỗi nhà nghiên cứu khi xác định trọng số cho mỗi khoản mục. Do đó, kết quả nghiên cứu có thể dẫn đến sự khác biệt lớn. Vì vậy, để hạn chế nhược điểm đó, người viết sẽ vận dụng phương pháp đo lường không trọng số trong việc đo lường mức độ công bố thông tin tài chính với những thông tin tài chính được quy định trong từ các văn bản pháp luật liên quan.

6. Khuôn mẫu công bố thông tin tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam:

Hiện nay, các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam công bố thông tin tài chính. Nội dung là ban hành chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng.
Trong thị trường tài chính, việc công bố thông tin tài chính đóng vai trò rất quan trọng. Thông tin tài chính công bố minh bạch sẽ bảo vệ các nhà đầu tư, khách hàng và là bằng chứng vững chắc cho các cơ quan ban ngành. Đồng thời, sự minh bạch trong việc công bố thông tin tài chính sẽ góp phần phát triển hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê