Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung
- 2. Đối tượng nghiên cứu
- 2.1 Nghiên cứu những khía cạnh tâm lý của hành vi phạm pháp nói chung, hành vi phạm tội nói riêng
- 2.2 Tâm lý học tư pháp nghiên cứu các khía cạnh tâm lý của hoạt động tư pháp
- 2.3 Tâm lý học tư pháp nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của các chủ thể tham gia hoạt động tư pháp
1. Khái quát chung
Khoa học học tâm lý ra đời đã khá lâu (1879), gắn liền với tên tuổi của W.Wunt (1832-1920) nhưng với tư cách là một chuyên ngành tâm lý học, tâm lý học tư pháp ra đời khá muộn. Tuy nhiên, những tiền đề của chuyên ngành tâm lý học này cũng đã có từ lâu. Ở nước ngoài có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của I.T.Paxôskov (1652-1726) đã đưa ra những kiến nghị tâm lý về việc hỏi cung bị can và lấy lời khai người làm chứng, ông đã giải thích một cách chi tiết lời khai man của người làm chứng và làm như thế nào để nhận được những thông tin chính xác nhằm vạch ra sự gian dối của họ. Nghiên cứu của M.M.Sêbartov (1733-1790) cũng đã nghiên cứu nhiều khía cạnh tâm lý học tư pháp, ông có đề nghị khi soạn thảo pháp luật phải chú ý đến đặc điểm của nhân cách con người, đó là vấn đề đầu tiên của việc miễn chấp hành hình phạt. Sau đó là hàng loạt các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đề cập xung quanh đến vấn đề này. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu tâm lý học tư pháp còn rất mới mẻ, khiêm tốn. Các công trình nghiên cứu, tài liệu về tâm lý học tư pháp chủ yếu được công bố ở các trường đại học Cảnh sát nhân dân, đại học Luật Hà nội và đại học Khoa học xã hội & nhân văn, phục vụ công tác giảng dạy và học tập của cán bộ giảng viên và sinh viên. Tài liệu tiếng Việt đầu tiên có nội dung về tâm lý học trong hoạt động bảo vệ pháp luật là cuốn tài liệu tham khảo “Tâm lý học pháp lý” của tác giả A.V.Đu Lốp do Tạ Quang Duật dịch từ tài liệu tiếng Nga, xuất bản tại trường sỹ quan an ninh, năm 1980. Cuốn “ Tâm lý học Tư pháp” của các giả Trương Ngôn, 1995. Đây là cuốn giáo trình phục vụ đào tạo hệ cao học tại đại học Cảnh sát nhân dân, nay là Học viện Cảnh sát nhân dân. Năm 2007, tác giả Đặng Thanh Nga, trường Đại học Luật Hà Nội đã công bố kết quả nghiên cứu nội dung tâm lý học tư pháp trong cuốn “Tâm lý học tư pháp” - Giáo trình, trường đại học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân. Giáo trình đề cập đến nhiều nội dung của tâm lý học tư pháp, được dùng giảng dạy cho đào tạo cử nhân chuyên ngành Luật hình sự tại trường Đại học Luật Hà Nội. Cuốn “Tâm lý học pháp lý”, giáo trình dùng cho đào tạo cử nhân, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009 của hai tác giả Nguyễn Hồi Loan (trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn) và tác giả Đặng Thanh Nga (trường Đại học Luật Hà Nội) đã kế thừa và tiếp tục phát triển những nội dung của tâm lý học tư pháp. Xuất phát từ yêu cầu công tác giảng giảng dạy chuyên ngành Luật hình sự tại Viện đại học mở Hà Nội, hai tác giả Chu Liên Anh và Dương Thị Loan đã xuất bản giáo trình “Tâm lý học tư pháp” và cuốn sách “Tâm lý học tư pháp - Hướng dẫn trả lời lý thuyết, giải bài tập tình huống và trắc nghiệm”, nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, năm 2013.
Những tài liệu ở nước ngoài và trong nước trên đây là những tài liệu vô cùng quý giá về lĩnh vực tâm lý học tư pháp, và là những tài liệu nhóm tác giả nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa, chọn lọc, bổ sung trong quá trình nghiên cứu, viết giáo trình “Tâm lý học tư pháp” dùng cho đào tạo cử nhân chuyên ngành Luật.
2. Đối tượng nghiên cứu
Để đảm bảo cho việc thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình trong công cuộc cải tạo và xây dựng đất nước, Nhà nước ta phải tiến hành nhiều hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như hoạt động kinh tế, hoạt động ngoại giao, hoạt động văn hóa, giáo dục… mỗi hoạt động trên mỗi lĩnh vực đều được giao cho những cơ quan có chức năng chuyên trách thực hiện. Trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, Nhà nước ta đã sử dụng những cơ quan chuyên trách như cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án để đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự và bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức xã hội và của công dân. Hoạt động của những cơ quan chuyên chính này, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, được pháp luật tố tụng quy định gọi là hoạt động tư pháp. Tâm lý học tư pháp là một ngành khoa học độc lập. Nó là cầu nối giữa khoa học pháp lý và khoa học tâm lý. Để tìm hiểu về đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tư pháp cần làm rõ một số khái niệm.
Trước hết là khái niệm tư pháp, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tư pháp, ở mỗi nước khác nhau sẽ có cách hiểu khác nhau về khái niệm này, nhưng tựu chung lại có một số quan điểm chính về tư pháp như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê thì "Tư pháp là việc xét xử theo pháp luật". Còn quan niệm của pháp luật Trung Quốc thì "Tư pháp là việc nắm giữ pháp luật" và theo nghĩa Hán Việt "Tư pháp là trông coi và bảo vệ". Trong tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội" của Jean - Jacques Rouseau, tác giả có đưa ra quan điểm: "Tư pháp là cơ quan thiêng liêng nhất và được coi trọng nhất vì nó bảo vệ luật mà luật do cơ quan quyền lực tối cao ban hành và do chính phủ chấp hành"
Theo tác giả Dương Thanh Mai: "Tư pháp là một ý tưởng cao đẹp về một nền công lý đòi hỏi việc giải quyết các tranh chấp xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ phải, công bằng, bình đẳng và đảm bảo sự tin cậy đối với sự phát triển an toàn của mỗi công dân, xã hội".
Trong khoa học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật theo truyền thống pháp luật Châu Âu - Lục địa có quy định hệ thống pháp luật trong một quốc gia bao gồm Công pháp và Tư pháp. Công pháp là luật công điều chỉnh các quan hệ giữa Nhà nước và các pháp nhân, thể nhân bằng các quy phạm pháp luật của Luật Hành chính, Luật hình sự... Tư pháp là luật tư, điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân cơ quan, tổ chức với nhau, Nhà nước chỉ tham gia dưới góc độ quản lý và định hướng như Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Thương mại...
Theo quan điểm của thuyết "Tam quyền phân lập", tư pháp là một trong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Lập pháp là làm Luật, ban hành Luật. Hành pháp là thi hành pháp luật. Tư pháp là quyền xét xử được giao cho Tòa án thực hiện độc lập với các quyền khác, tư pháp là bảo vệ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp bằng pháp luật.
Có quan điểm cho rằng "Tư pháp" là khái niệm chung để chỉ các Chủ thể như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp, các chủ thể làm công tác tư pháp - hộ tịch. Khái niệm này cũng bao hàm những hoạt động của các chủ thể nêu trên như: Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; hoạt động bổ trợ tư pháp (công chứng, giám định, bào chữa) và hoạt động hành chính tư pháp (công chứng, tư pháp - hộ tịch). Khái niệm này rất rộng vì những cơ quan bổ trợ và hành chính tư pháp là những hoạt động do pháp luật hành chính điều chỉnh, độc lập với hoạt động tư pháp của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
Qua các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII); Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII); Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị thì nhiệm vụ đặt ra đối với tiến trình cải cách tư pháp là đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hai hệ thống cơ quan. Thứ nhất, các cơ quan tư pháp bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án, trong đó Tòa án là cơ quan trung tâm; Thứ hai, các cơ quan bổ trợ tư pháp, bao gồm tổ chức Luật sư, cơ quan Giám định tư pháp, Lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp. Ngoài ra, nhiệm vụ cải cách tư pháp còn đặt ra đối với công tác tư pháp bao gồm: công tác điều tra, công tác kiểm sát, công tác xét xử, công tác thi hành án và công tác bổ trợ tư pháp, trong đó xét xử là hoạt động trọng tâm của các hoạt động tư pháp.
Ở nước ta, tổ chức nền tư pháp quốc gia bao gồm hệ thống các cơ quan và tổ chức nghề nghiệp. Hoạt động của các cơ quan, tổ chức này trực tiếp hoặc hỗ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Như vậy, khái niệm "Tư pháp" có hai cách hiểu: Thứ nhất, tư pháp là hoạt động bảo vệ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp; Thứ hai, tư pháp là thuật ngữ để chỉ các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực tư pháp và những hoạt động trong lĩnh vực tư pháp do các cơ quan này thực hiện.
Tiếp theo là khái niệm hoạt động tư pháp: Hoạt động tư pháp là một lĩnh vực hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức đảm bảo trật tự an toàn xã hội theo các trình tự thủ tục do pháp luật quy định, thông qua sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. Có nhiều cách hiểu về “hoạt động tư pháp” do pháp luật Việt Nam chưa có quy phạm nào định nghĩa hoặc hướng dẫn chính thức về khái niệm “hoạt động tư pháp”. Quan điểm thứ nhất cho rằng: hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; của những người tiến hành tố tụng như Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án. Quan điểm thứ hai cho rằng hoạt động tư pháp còn bao gồm các chủ thể được giao tiến hành một số hoạt động tố tụng như: Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển... (Điều 35 Bộ luật TTHS 2015); Cơ quan Thi hành án (dân sự và hình sự). Quan điểm thứ ba cho rằng, khái niệm hoạt động tư pháp phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm ba dạng hoạt động: hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tố tụng (tư pháp - tố tụng), hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hành chính (tư pháp - hành chính) và hoạt động bổ trợ tư pháp.
Trên cơ sở những quan điểm nêu trên có thể hiểu hoạt động tư pháp là hoạt động của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành đối với các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và giải quyết các quan hệ pháp luật khác được pháp sinh theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ các quyền của Nhà nước, của các tổ chức, của công dân. Hoạt động tư pháp là hoạt động quyền lực nhà nước do các cơ quan tư pháp thực hiện. Các hoạt động này do người đại diện của các cơ quan tư pháp nhân danh Nhà nước trực tiếp thực hiện tùy theo chức danh được bổ nhiệm. Hoạt động tư pháp bao gồm những hoạt động trực tiếp liên quan đến trình tự thủ tục tố tụng theo luật định mới được xác định là hoạt động tư pháp. Ví dụ như hoạt động điều tra; hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án và các hoạt động của các cơ quan được Nhà nước giao thẩm quyền trong việc tiến hành một số hoạt động tư pháp theo thủ tục tố tụng. Trong đó hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động trọng tâm (theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 "Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020").
Như vậy, "hoạt động tư pháp" là "hoạt động tố tụng", tức là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án do các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án thực hiện; và là hoạt động của những người như: Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, quản giáo, chấp hành viên... thực hiện trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích Nhà nước, của các tổ chức và của công dân. Đối với những trường hợp được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của điều 35 Bộ luật TTHS 2015 thì đây không phải là các cơ quan tư pháp như đã phân tích ở phần trên và hoạt động chính của các cơ quan này không phải là hoạt động tố tụng, vì vậy sẽ không đề cập đến trong giáo trình này.
Tâm lý học tư pháp được coi là một ngành tâm lý học ứng dụng và nó là một ngành khoa học độc lập. Nó được coi là cầu nối giữa khoa học pháp lý và khoa học tâm lý. Có thể hiểu Tâm lý học tư pháp là một nghành tâm lý học ứng dụng nghiên cứu các hiện tượng, quy luật và các đặc điểm tâm lý của con người biểu hiện trong quá trình thực hiện tội phạm, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, đồng thời soạn thảo ra các phương pháp tâm lý để sử dụng trong hoạt động tư pháp. Do vậy nó có đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Tâm lý tư pháp nghiên cứu các vấn đề cụ thể sau:
2.1 Nghiên cứu những khía cạnh tâm lý của hành vi phạm pháp nói chung, hành vi phạm tội nói riêng
Cụ thể gồm nguyên nhân tâm lý xã hội của hành vi phạm tội; các yếu tố cấu thành nên hành vi phạm tội; hậu quả của hành vi phạm tội; chuyển biến tâm lý của người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; khía cạnh tâm lý của quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người đã chấp hành xong án phạt tù;
2.2 Tâm lý học tư pháp nghiên cứu các khía cạnh tâm lý của hoạt động tư pháp
Các khía cạnh tâm lý đó gồm: Cấu trúc tâm lý của các dạng hoạt động tư pháp, các dạng hoạt động tư pháp cụ thể và các phẩm chất cần thiết cho người cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tư pháp;
2.3 Tâm lý học tư pháp nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của các chủ thể tham gia hoạt động tư pháp
Bốn là, tâm lý học tư pháp nghiên cứu và soạn thảo ra các phương pháp tâm lý sử dụng trong hoạt động tư pháp. Là ngành khoa học ứng dụng, tâm lý học tư pháp còn soạn thảo ra các phương pháp tác động tâm lý để sử dụng trong hoạt động tư pháp, giúp cho người cán bộ tư pháp có thể tác động đến tâm lý của các đối tượng cần thiết.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê