1. Chủ thể của tư pháp quốc tế

Để có thể trở thành chủ thể của tư pháp quốc tế phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

– Thứ nhất, Cá nhân, tổ chức phải có đầy đủ năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi) theo quy định của pháp luật.

– Thứ hai, cá nhân, tổ chức đó phải tham gia vào quan hệ xã hội do tư pháp điều chỉnh.

Chủ thể phổ biến của tư pháp quốc tế bao gồm các cá nhân, pháp nhân và quốc gia.

– Chủ thể là các cá nhân: các cá nhân tham gia trong tư pháp quốc tế có thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

+ Người nước ngoài được xác định là những người không có quốc tịch của Việt Nam, bao gồm cả những người có quốc tịch nước ngoài hoặc những người không có quốc tịch.

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả các công dân của Việt Nam và người có gốc Việt Nam nhưng đã  có thời gian dài cư trú, sinh sống ở nước ngoài. Những người này có thể là người còn quốc tịch Việt Nam hoặc người song quốc tịch (trong đó có quốc tịch Việt Nam).

Với hình thức chủ thể này, nguyên tắc nền tảng, ghi nhận trong Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia chính là đối xử quốc gia, tối huệ quốc, có đi có lại và nguyên tắc đãi ngộ đặc biệt.

– Chủ thể là pháp nhân: bao gồm pháp nhân được thành lập theo quy định của Việt Nam và pháp nhân được thành lập theo quy định của nước ngoài. Theo quy định tại Điều 86 BLDS 2015, mỗi pháp nhân đều phải có năng lực pháp luật dân sự, đó là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Đối với pháp nhân, năng lực pháp luật dân sự được phát sinh chính từ thời điểm được thành lập bởi các cơ quan có thẩm quyền hoặc chính tại thời điểm được cho phép thành lập hoặc thời điểm ghi vào sổ đăng ký.

– Chủ thể là các quốc gia: Có thể nói, quốc gia là chủ thể đặc biệt của tư pháp quốc tế. Đây là một thực thể pháp lý, chính trị được cấu thành bởi ba yếu tố là lãnh thổ, dân cư, chủ quyền. Cũng như những chủ thể khác, quốc gia tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế, thực hiện giải quyết các tranh chấp phát sinh, thực hiện các nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, với vai trò đặc thù của mình, quốc gia có thể thực hiện việc xây dựng, ký kết, gia nhập các Điều ước quốc tế, các Hiệp ước song phương, đa phương.

2. Pháp nhân trong tư pháp quốc tế là gì

Trong thực tiễn tư pháp quốc tế được thành lập teo pháp luật của một nước nhất định, nói cách khác thì việc công nhận một tổ chức có tư cách pháp nhân phải dựa trên, thông thường một tổ chức được công nhận có tư cách pháp nhân ở nước nó được thành lập thì nó được công nhận ở những nước khác.

Đối với Việt Nam, pháp nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch nước ngoài

Theo quy định khoản 5 Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định cụ Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, pháp nhân nước noài là pháp nhân được thành lập theo quy định theo pháp luật nước ngoài.

Quốc tịch của pháp nhân thể hiện môi quan hệ giữa pháp nhân và nhà nước là mối quan hệ pháp lý đặc biệt vững chắc giữa pháp nhân và nhà nước, đặc biệt ở chỗ hưởng tư cách pháp nhân ở một nước thì khi hoạt động ở nước ngoài thì pháp nhân sẽ được nhà nước mình bảo hộ về mặt ngoại giao. Việc hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, chấm dứt pháp nhân và thanh lý tài sản, giải quyết cấc vấn đề về tài sản. Trong các vấn đê này phải tuân theo pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch.

Pháp luật của các nước đều có những nguyên tắc xác định tư cách pháp nhân, trong thực tiễn dựa vào một trong những dấu hiệu sau:

- Dựa theo trung tâm quản lý hành chính của pháp nhân. Ví dụ: Pháp, Đức, ...

- Dựa theo nơi pháp nhân thành lập và đăng ký điều lệ của pháp nhân. Vi dụ: Anh, Mỹ, ...

- Dựa vào nơi phân tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh,. Ví dụ: Ai Cập, Siria, ...

Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 1, Điều 765 Bộ luật Dân sự năm 2005, quốc tịch của pháp nhân được xác định là nơi thành lập.

3. Quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài

Đặc điểm quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nươc ngoài.

Khi hoạt động ở nước ngòa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hai nước - mang tính song trùng pháp luật: pháp luật của nước pháp nhân mang quốc tịch và pháp luật của nươc sở tại nơi pháp nhân tiến hành các hoạt dộng sản xuất và kiinh doanh.

Việc cho pháp nhân nước ngoài vào hoạt động hay không, cho phép vào để tiến hành hoạt động gì, trong lĩnh vực nào, cho pháp nhân đó đucợ hưởng thêm những quyền gì, có nghĩa vụ gì là quyền của nước sở tại. Những vấn đề này được quyết định trong văn bản pháp luật quốc gia và những điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia ký kết.

Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài được xây dựng trên cở sở đãi ngộ quốc dân, chế độ tối huệ quốc và chê độ đãi ngộ đặc biệt, việc áp dụng chê độ nào trong từng lĩnh vực cụ thể tùy theo pháp luật của nước sở tại và tùy theo điều ước quốc tế mà nước đó tham gia.

Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài ở Việt Nam: xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế và Việt Nam tham gia. Theo khoản 1 Điều 765 Bộ luật Dân sự năm 2005, năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo nước nơi pháp nhân đó thành lập trừ trương hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

Theo kết luận thì trường hợp pháp nhân xác lập thực hiện các giao dịch dân sự tại việt Nam thì năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của Việt Nam.

Hình thức hoạt động của pháp nhân nước ngoài ở Việt Nam:

- Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam theo Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Các biện pháp bảo đảm đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư, ngoài ra, các quyết định về thuế, tài chính, ...

- Quy định về đặt chi nhánh và văn phòng đại diện tại Việt Nam được quy định bởi luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành.

- Pháp nhân nước ngoài hoạt động tại Việ Nam dưới hình thức thương mại và dịch vụ. Ví dụ: bảo hiểm, ngân hàng, ...

4. Quốc gia - chủ thể đặc biệt của tư pháp quốc tế.

Khi tham gia vào các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, quốc gia được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt – không những không ngang hàng với các cá nhân và pháp nhân mà còn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.

Cơ sở pháp lý quốc tế của quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia thể hiện ở việc xác định quốc gia là một thực thể có chủ quyền và là chủ thể đặc biệt trong Tư pháp quốc tế, được thể hiện ở các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia.

Theo nguyên tắc này, Nhà nước này hoặc bất kì cơ quan nào của nhà nước này không có quyền xét xử nhà nước khác hoặc đại diện của Nhà nước khác.

Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự có nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, quốc gia là chủ thể không tham gia thường xuyên vào những quan hệ đó trong đó còn có một số quan hệ mà quốc gia không thể tham gia.

xuất phát từ yếu tố chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, khi tham gia vào các mối quan hệ của tư pháp quốc tế quốc gia không thể đứng ngang hàng giữa cá nhân và pháp nhân mà quóc gia phải được hưởng quyền miên trừ tư pháp:

- Quyền miễn trừ xét xử: Theo quyền này, nếu như không có sự đồng ý của quốc gia thì không có cơ quan tổ chức nào có quyền xét xử quốc gia ở nước ngoài.

- Quyền miễn trừ về tài sản của quốc gia ở nước ngoài: Theo quyền này, nếu như không có sự đồng ý của quốc gia thì không có cơ quan tổ chức nào có quyền bắt giữ tài sản của quốc gia để đảm bảo sơ bộ cho vụ kiện hoặc để đảm bảo cho việc thi hành án sau nay.

- Quyền miễn trừ thi hành án: Theo quyền này, nếu như không có sự đồng ý của quốc gia thì không có cơ quan tổ chức nào có quyền ép buộc quốc gia phải thi hành bản án bất lợi cho mình.

Các quyền miễn trừ trên đây cả quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ này không đồng nghĩa với việc quốc gia từ bỏ từ bỏ cả những quyền miễn trừ khác.

Việc quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ cả mình phả được ghi nhận một cách rõ ràng trong hợp đồng mà quốc gia quốc gia đại diện tham gia ký kết, trong pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế, trong điều ước quốc tế.

5. Quyền miễn trừ quốc gia trong tư pháp quốc tế Việt Nam

Ở Việt Nam, Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993. Cụ thể, viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử đối với hình sự, dân sự và xử phạt hành chính, thi hành án tại Việt Nam. Trừ những trường hợp họ tham gia với tư cách cá nhân. 

Mặc dù ở Việt Nam chưa có quy định về những trường hợp miễn trừ đối với các quốc gia nước ngoài tuy nhiên, việc miễn trừ vẫn được ghi nhận và thực hiện trên cơ sở nguyên tắc: Những cơ quan, tổ chức hay cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng hưởng các quyền ưu đãi hay miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc theo những điều ước có Việt Nam là thành viên thì những vụ việc liên quan sẽ được giải quyết theo con đường ngoại giao.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 100 Bộ luật dân sự năm 2015, đối với những quan hệ dân sự có một bên chủ thể tham gia là các quốc gia, pháp nhân hay cá nhân nước ngoài thì Nhà nước Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước của Việt Nam khi xác lập với các chủ thể đó phải chịu trách nhiệm trong những trường hợp sau đây:

Thứ nhất, có nghĩa vụ chịu trách nhiệm đối với những giao dịch mình xác lập trong trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có điều khoản quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ.

Thứ hai, trong trường hợp các bên của quan hệ dân sự được xác lập đã có sự thỏa thuận với nhau về việc từ bỏ quyền miễn trừ. Khác với trường hợp trên, quyền miễn trừ của quốc gia quy định trong các Điều ước quốc tế, thì việc từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia trong trường hợp này xuất phát từ sự tự do ý chí của chính nhà nước hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam khi tham gia vào quan hệ. Chính vì vậy, khi đã từ bỏ quyền miễn trừ thì đương nhiên phải chịu các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ mà mình thiết lập.

Thứ ba, trường hợp chính Việt Nam, cơ quan nhà nước của Việt Nam tự mình từ bỏ quyền miễn trừ của mình khi xác lập giao dịch với các chủ thể đó. Đây là trường hợp Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ theo ý chí, theo sự quyết định của chính mình. Thông thường, việc nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ của mình là nhằm tạo ra cơ chế ngang bằng với các chủ thể nước ngoài đang có quan hệ với họ. Khi nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ  quyền miễn trừ thì họ phải chịu nghĩa vụ trước Nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài mà họ xác lập quan hệ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7, chi tiết xin lên hệ số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật - Công ty luật MInh Khuê