Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
- 2. Đặc điểm nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
- 2.1 Thứ nhất, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là nguyên tắc chỉ đạo, xuyên suốt, điều chỉnh quan hệ vợ chồng
- 2.2 Thứ hai, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng thể hiện rõ nhất trong các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản
- 3. Ý nghĩa nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
- 4. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
- 4.1 Tình nghĩa vợ chồng
- 4.2 Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng
- 4.3 Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- 4.2 Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
1. Khái quát chung về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được quy định tại khoản 1 điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014, là nguyên tắc chỉ đạo, xuyên suốt các quy định điều chỉnh quan hệ vợ chồng về nhân thân, tài sản và con cái:
Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
Điều 17 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về bình đẳng về quyền bình đẳng của vợ chồng:
Điều 17. Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồngVợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan.
Tại Bộ Luật Dân sự 2015 cũng có quy định về quyền bình đẳng của vợ chồng tại Điều 39 về quyền nhân thân trong HN&GĐ và Điều 213 về sở hữu chung của vợ chồng.
Điều 39. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình1. Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.2. Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan.
Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.
Có thể thấy, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong quan hệ HN&GĐ được thể hiện thông qua rất nhiều trong quy định pháp luật và cũng như trong cuộc sống: Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; Vợ, chồng có trách nhiệm chia sẻ công việc trong gia đình;… Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trước hết là thể hiện vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và các quan hệ pháp luật; bình đẳng trong việc cùng nhau bàn bạc và đưa ra quyết định những vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản của vợ chồng, của các thành viên trong gia đình. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được quy định nhằm mục đích xây dựng gia đình tiến bộ, bình đẳng, bền vững, hạnh phúc. Nguyên tắc này được thực hiện một cách dân chủ, công bằng, tôn trọng lẫn nhau và không phân biệt đối xử giữa vợ và chồng.
Qua những phân tích trên có thể thấy nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là nguyên tắc chỉ đạo, xuyên suốt các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, điều chỉnh quan hệvợ chồng; quy định quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong các quan hệ pháp luật, đặc biệt là quan hệ về nhân thân và tài sản của vợ chồng; với mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
2. Đặc điểm nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
2.1 Thứ nhất, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là nguyên tắc chỉ đạo, xuyên suốt, điều chỉnh quan hệ vợ chồng
Trong hệ thống quy phạm pháp luật HN&GĐ được chia làm hai nhóm là nhóm quy phạm chung và nhóm những quy phạm chuyện biệt. Hai nhóm quy phạm này đều bị điều chỉnh, phải phù hợp với những nguyên cơ bản của chế độ HN&GĐ. Như vậy nguyên tắc vợ chồng bình đẳng có vai trò chỉ đạo, xuyên suốt trong các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ vợ chồng. Ngoài ra nguyên tắc này thể hiện thống nhất, đồng bộ trong toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia, trước hết nó được ghi nhận trong Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng xuất phát từ quy định trong Hiến pháp về quyền con người, cụ thể tại khoản 1 Điều 36 Hiến pháp 2013:
Điều 36.1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.
Và nguyên tắc này còn đòi hỏi các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, tương thích, không được trái với tư tưởng chỉ đạo.
2.2 Thứ hai, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng thể hiện rõ nhất trong các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng đảm bảo sự công bằng, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợ chồng, bảo đảm lợi ích chung của gia đình và xã hội. Pháp luật HN&GĐ quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản tương đồng với nhau. Không có lý do gì mà người chồng được pháp luật cho phép có những quyền hoặc phải gánh vác những nghĩa vụ nhiều hơn người vợ và ngược lại. Tuy nhiên, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng không có nghĩa là quyền tự do, tự ý làm những gì mình thích. Nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ và chồng mang yếu tố tình cảm, lợi ích giữa vợ và chồng, gắn liền với vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân. Chỉ trong quan hệ vợ chồng thì họ mới phát sinh các quyền và nghĩa vụ đó. Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ chồng có vai trò quan trọng trong đời sống gia đình, gắn liền với nhân thân của vợ chồng. Ngoài ra, vợ chồng còn có các quyền và nghĩa vụ khác với nhau, với gia đình và xã hội.
3. Ý nghĩa nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
Từ thực tiễn cuộc sống hiện nay, vẫn tồn tại sự ảnh hưởng của những tư tưởng lạc hậu, phong kiến, sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng. Sự bất bình đẳng ấy đã đẩy người phụ nữ vào tình trạng lệ thuộc, không có sự đảm bảo quyền lợi chính đáng của mình. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về mọi mặt trong gia đình được khẳng định và thể hiện là nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi người vợ, đẩy lùi tư tưởng lạc hậu phong kiến, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ và bình đẳng ở nước ta.
Những quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng là cơ sở pháp lý để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ vợ chồng như: tranh chấp tài sản, bạo lực gia đình, giải quyết ly hôn,… Hơn nữa nguyên tắc vợ chồng bình đẳng còn là cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho việc giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ được khách quan, thống nhất, đảm bảo quyền lợi các bên. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là cơ sở pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản của bản thân vợ chồng, cũng như các thành viên khác trong gia đình. Bên cạnh đó nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi của người phụ nữ nhằm đảm bảo tính khả thi các quyền của phụ nữ được thực hiện trên thực tế đời sống, làm ổn định quan hệ HN&GĐ, giúp người phụ nữ tự tin hơn khi ra ngoài xã hội.
Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng là một trong những cơ sở góp phần triển khai các chương trình bình đẳng giới, tránh bạo lực gia đình. Tất cả những ý nghĩa đó góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hóa theo xu hướng bình đẳng giới thực sự từ trong gia đình, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trên toàn xã hội.
4. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
4.1 Tình nghĩa vợ chồng
Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ nhân thân: ngoài việc quy định vợ chồng bình đẳng, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, Luật còn quy định vợ chồng bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp; quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng quy định trong Bộ Luật Dân sự và các luật khác có liên quan. Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định vợ chồng cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình để đảm bảo việc chăm lo gia đình hạnh phúc, bình đẳng, bền vững ( Khoản 1 Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014). Trong hôn nhân vợ chồng phải chung thủy với nhau, là nghĩa vụ phải xuất phát từ cả hai phía vợ và chồng. Đây là biểu hiện, yêu cầu đầu tiên có tính quyết định trong việc đảm bảo, duy trì hạnh phúc gia đình. Thể hiện việc áp dụng nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong gia đình mà các bộ luật trước không có được. Nhưng chung thủy thì chưa đủ để gây dựng, giữ gìn mái ấm gia đình. Vợ chồng phải chăm sóc, giúp đỡ nhau về cả vật chất lẫn tinh thần. Về phương diện vật chất, vợ chồng có nghĩa vụ hợp tác trong việc đảm bảo nhu cầu sinh hoạt hợp lý của gia đình. Còn về tinh thần, vợ chồng phải dành cho nhau sự chăm sóc tận tụy, cả trong sinh hoạt bình thường lẫn trong lúc ốm đau, khó khăn. Trong các quan hệ pháp luật, vợ chồng phải cùng nhau đoàn kết và tương trợ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, của gia đình. Trong công việc nghề nghiệp, vợ chồng phải động viên nhau, cùng cố gắng để hoàn thành tốt công việc, trách nhiệm của mình. Đồng thời khoản 2 Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “ Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.Quy đình này cho thấy nghĩa vụ sống chung là nghĩa vụ trong quan hệ nhân thân của vợ và chồng, phát sinh trên cơ sở hôn nhân hợp pháp. Theo đó, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ tạo lập một cuộc sống chung, một nơi ở chung để xây dựng, bảo vệ chế độ HN&GĐ hạnh phúc, vững mạnh, tiến bộ.
4.2 Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng
Khi vợ và chống đã tự nguyện kết hôn với nhau, sống chung trong một gia đình thì việc tôn trọng và giữ gìn uy tín, danh dự, nhân phẩm trong quá trình chung sống là hết sức cần thiết, đảm bảo cho cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Trong xã hội phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ khiến cho người phụ nữ bị coi thường, không được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Nhưng ngày nay, xã hội đã có những cách nhìn đúng đắn hơn về vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật HN&GĐ cũng được áp dụng trong việc tôn trọng danh dự nhân phẩm, uy tín của người phụ nữ. Được ghi nhận tại Điều 21 Luật HN&GĐ năm 2014: “ Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau”. Muốn một gia đình bền vững, hạnh phúc thì việc tôn trọng. giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín phải được vợ và chồng cùng nhau thực hiện. Vợ hoặc chồng không được có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau hoặc không được phép đứng về phía xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng mình.
4.3 Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 22 Luật HN&GĐ quy định: “ Vợ , chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau”. Thông thường, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được các bên giải quyết trước khi kết hôn. Tuy nhiên có trường hợp một trong hai người muốn thay đổi tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kì hôn nhân. Khi đó người còn lại có thể có ý kiến riêng nhưng không thể áp đặt tín ngưỡng, tôn giáo của mình cho người muốn thay đổi. Theo đuổi một tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật và không được cản trở việc thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng và cũng không được gây mất trật tự trong sinh hoạt gia đình. Quy định về quyền tự do lựa chọn tôn giáo của vợ, chồng có ý nghĩa sâu sắc trong việc áp dụng nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, đặc biệt trong việc bảo vệ quyền của người phụ nữ. Bởi vì thực tế cho thấy rằng trong xã hội vẫn còn có nhiều định kiến tôn giáo, vẫn còn tư tưởng “xuất giá tòng phu” là phụ nữ lấy chồng thì phải theo chồng gây cản trở người phụ nữ được hưởng các quyền mà pháp luật ghi hận cho họ, trong đó có quyền tự do lựa chọn tôn giáo. Vợ, chồng phải cùng nhau tôn trọng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.
4.2 Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Hiện nay mặc dù người vợ đã vơi đi gánh nặng đối với công việc trong gia đình, được học tập, làm việc và tham gia các hoạt động, công việc xã hội ở trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng vẫn còn tồn tại nhiều gia đình giữ tư tưởng lạc hậu, xem việc chăm sóc con cái, nội trợ, chăm lo gia đình là việc của người vợ mà hạn chế việc học tập, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Luật HN&GĐ năm 2014 không chỉ quy định quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp của vợ, chồng mà còn quy định nghĩa vụ giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau tìm việc làm thích hợp với mình. Trong gia đình, người vợ không chỉ thực hiện chức năng làm mẹ mà còn được tự do lựa chọn nghề nghiệp, bình đẳng với chồng trong việc quyết định vấn đề học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đảng và Nhà nước ta còn luôn đảm bảo được quyền bình đẳng của người phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, qua đó góp phần vào việc thể hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trên thực tế.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê