1. Mua hộ ma túy phạm tội gì?

Thưa Luật sư, một người đi mua ma túy về sử dụng thì có một người khác gửi 300 nghìn để mua hộ về sử dụng. Hỏi người đi mua hộ có phạm tội không ? Tội gì ? Biết rằng công an bắt được cả người bán ma túy cho người mua hộ ?
Mong anh chị giải đáp giúp em. Xin chân thành cảm ơn Luật sư.
Người gửi : T. N. T

>> Luật tư tư vấn lĩnh vực hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời :

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Trường hợp của bạn sẽ bị buộc tội theo những tội danh sau:

Thứ nhất, căn cứ theo điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

Thứ hai, căn cứ điểm c), mục 3.7, phần 2 Thông tư liên tịch số 17/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP:

3.7. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy cần phân biệt:

c) Người nào biết người khác đi mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà gửi tiền nhờ mua hộ chất ma túy để sử dụng thì người nhờ mua hộ phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng chất ma túy đã nhờ mua hộ. Người đi mua phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy đã mua cho bản thân và mua hộ.

Như vậy, trong trường hợp bạn nêu ra thì người đi mua hộ mua về sử dụng chịu trách nhiệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 249 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về tổng số lượng chất ma túy đã mua cho bản thân và mua hộ. Người nhờ mua hộ mua về sử dụng chịu trách nhiệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy về số lượng chất ma túy đã nhờ mua hộ.

Mục 3.6 Thông tư liên tịch 17 quy định như sau :

"3.6. Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng dưới một gam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng dưới một kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mililít trở xuống.".

Theo đó, tùy vào số lượng chất ma túy mà người mua hộ cũng như người nhờ mua hộ có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự. Trong trường hợp tàng trữ theo mục 3.6 thì người có hành vi tàng trữ sẽ chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng). Nếu quá số lượng tại mục 3.6 mới bị xử lý hình sự.

Người bán ma túy bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điều 251 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?

2. Mức phạt tội danh mua bán ma túy?

Chào luật sư! Tôi có 1 việc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi có người nhà mới bị bắt tạm giam, bị khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ông làm xe ôm, trong lúc chở 1 người nghiện thì bị bắt. Cơ quan điều tra khám nhà thì không thu giữ được gì. Trong thời gian ông bị tạm giữ, gia đình tôi có hỏi cơ quan điều tra về tình tiết vụ án để biết được người thân của mình bị bắt về tội gì, có thu giữ được tang vật gì không....
Khi ông bị khởi tố và chuyển sang tạm giam, gia đình tôi chạy vạy hỏi người quen thì được biết ông bị khởi tố tội mua bán trái phép chất ma túy, ở khung hình phạt thứ 2, từ 7-15 năm. Lúc bị bắt thì trong người ông không có gì, khám nhà cũng không có, còn tên nghiện ngồi sau xe thì trong ng có 4 tép heroin, khám nhà hắn có 7 tép. Điều phi lý là tên nghiện khai rằng người nhà tôi chuyên mua bán hộ, còn hắn được ông mua cho để dùng chứ hắn không tự bỏ tiền ra mua.
Tôi thấy mọi chuyện rất vô lý, tại sao người nhà tôi lại bị khép tội ở khung hình phạt thứ 2 mà không phải thứ 1?? Và tại sao cơ quan điều tra lại không cung cấp thông tin vụ án cho thân nhân bị can?? Gia đình tôi có quyền được biết các tình tiết và có được xem hồ sơ vụ án không?? Nếu muốn được cung cấp đầy đủ thông tin chính xác thì phải làm thế nào?? Liệu vụ án như thế này có thể bào chữa không?? Khả năng thắng kiện là bao nhiêu % ?
Rất mong chờ câu trả lời của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi câu hỏi: Hà Vũ

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp này, chúng tôi khuyên bạn trước hết nên bình tĩnh! Bạn cảm thấy rằng “ mọi chuyện rất vô lý, tại sao người nhà tôi lại bị khép tội ở khung hình phạt thứ 2 mà không phải thứ 1?? Vì vụ án mới đang ở giai đoạn khởi tố và đang trong quá trình điều tra nên thông tin bạn biết người bi bắt bị khởi tố tội mua bán trái phép chất ma túy, ở khung hình phạt thứ 2, từ 7-15 năm- đây chưa phải là kết luận cuối cùng. Vụ án sẽ tiếp tục được các cơ quan điều tra thu thập chứng cứ và kết hợp làm rõ những tình tiết của vụ án rồi sau đó mới đem ra xét xử. Khi nào vụ án được đem ra xét xử và phải có kết luận bằng bản án có hiệu lực của Tòa án thì khi đó mới có kết luận chính xác người thân bạn phạm tội gì.

Bởi vì: Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định

Điều 13. Suy đoán vô tội

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Bạn có hỏi là: Tại sao cơ quan điều tra lại không cung cấp thông tin vụ án cho thân nhân bị can?? Gia đình tôi có quyền được biết các tình tiết và có được xem hồ sơ vụ án không??

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì không có quy định nào nói rằng cơ quan điều tra được cung cấp thông tin vụ án cho nhân thân bị can.

Nói chung, các hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cuộc sống thường ngày của công dân. Để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh những thông tin về tội phạm bằng các biện pháp khác nhau (yêu cầu cơ quan, tổ chức, công dân cung cấp chứng cứ), do vậy, cũng có thể gây nên những phiền phức nhất định đối với cơ quan, tổ chức, công dân. Nếu cơ quan điều tra cung cấp không tin vụ án cho nhân thân bị can thì có thể khiến cho những thông tin về vụ án bị phát tán ra ngoài và trong nhiều trường hợp ảnh hưởng không tốt tới quá trình điều tra, làm rõ những tình tiết của vụ án. Hơn nữa, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.

  • Liệu vụ án như thế này có thể bào chữa không?? Khả năng thắng kiện là bao nhiêu %??

Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là bảo đảm quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tại Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.

Theo điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo hoặc “bào chữa viên nhân dân”. Tuy nhiên, chủ yếu (nếu không muốn nói là tuyệt đối) vẫn là luật sư. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.

Điều 75. Lựa chọn người bào chữa

1. Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.

2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

...

Điều 76. Chỉ định người bào chữa

1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:

a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;

b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Vì vậy, bạn và gia đình có thuê luật sư để bào chữa cho người nhà của mình.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thì xử lý như thế nào?

3. Góp tiền mua ma túy có phải chịu trách nhiệm hình sự?

Chào bác luật sư, cháu không rõ về luật nên muốn nhờ bác giải đáp giúp ạ Bạn cháu năm nay 19 tuổi, nghe lời một số anh em quen biết bảo góp vốn làm ăn mà không biết đó là buôn bán ma tuý đá. bạn cháu có góp vào một số tiền nhỏ( hơn 1 triệu) và chỉ góp vào thôi, không tham gia hay biết gì về việc mua bán vận chuyển ma tuý.
Nay người kia bị công an bắt và tên bạn cháu có ghi trong cuốn sổ góp vốn của người kia. Vậy bạn cháu có phải chịu trách nhiệm hình sự không ạ? có cách nào miễn án, xử phạt hành chính hoặc cùng lắm là án treo không ạ. Bạn cháu chưa có tiền án tiền sự, hiện đang học một trường đại học ở Hà Nội, gia đình có công với cách mạng, ông từng trực tiếp tham gia chiến đấu, là sĩ quan quân đội về hưu ?
Cháu xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về ma túy, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về trách nhiệm hình sự

Hành vi góp vốn vào hoạt động buôn bán ma túy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 249 về tội tàng trữ chất ma túy trái phép và điều 251 về tội mua bán trái phép chất ma túy Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017 )

Theo đó, bạn của bạn có thể được xác định là đồng phạm trong vụ án này theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành."

Như vậy, bạn của bạn có thể được xác định là đồng phạm với vai trò là người giúp sức.

Thứ hai, về việc miễn trách nhiệm hình sự

Việc miễn trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

"Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Như vậy, việc miễn trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện khi có một trong các điều kiện nêu trên.

Về việc không bị truy cứu trách nhiệm và áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính:

Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự và chỉ xử phạt hành chính với tội phạm này khi có đủ điều kiện quy định tại tiểu mục 3.6 mục II tThông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 như sau:

" 3.6. Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng dưới một gam;
b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam;
c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng dưới một kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam;
g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mililít trở xuống."

Về vấn đề hưởng án treo:

Việc áp dụng án treo được quy định rõ tại Điều 60 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 65. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này."

Như vậy, những yếu tố như: chưa có tiền án tiền sự, gia đình có công với cách mạng, ông từng trực tiếp tham gia chiến đấu , là sĩ quan quân đội về hưu là những tình tiết giảm nhẹ để Tòa án quyết định việc hưởng án treo của bạn của bạn.

>> Xem thêm:  Mua bán hạt giống cây gai dầu có hợp pháp ?

4. Tư vấn về tình tiết giảm nhẹ tội mua bán chất ma túy ?

Dạ thưa ! Luật sư chồng e bị phạm tội mua bán trái phép chất ma tuy , vì hoàn cảnh khó khăn ,nên e muốn viết tờ đơn xin giảm nhẹ hình phạt , gia đình có bà nội ,ông ngoai có công cách mạng với nước ,nay e muốn viết tờ đơn nhưng e không biết trình bày như thế nào?
Mong a giúp đỡ, trong lúc chờ sự chấp thuận Em xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn về tình tiết giảm nhẹ hành phạt tội mua bán trái phép chất ma túy ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

- Về việc bảo lãnh người bị tạm giam

Thân nhân của người bị tạm giam có quyền được làm đơn yêu cầu được bảo lãnh. Việc cơ quan điều tra có quyền quyết định chấp nhận việc bảo lãnh hay không. Việc bảo lãnh người bị tạm giam được thực hiện theo quy định tại Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

"Điều 121. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật."

- Về mức hình phạt

Việc quyết định hình phạt được quy định như sau:

"Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội."

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì hiện nay, gia đình có ông bà là người có công với cách mạng và nếu chồng bạn có tình tiết phạm tội lần đầu là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho chồng bạn. Bên cạnh đó, bạn xem xét thêm chồng bạn có một trong các tình tiết giảm nhẹ nêu trên hay không để gia đình bảo lãnh hoặc xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho chồng bạn.

>> Xem thêm:  Mua bán sử dụng trái phép ma tuý đá dưới 1g có phải chịu trách nhiệm không ?

5. Nhờ mua ma túy phạm tội gì ?

Thưa luật sư, tôi được bạn tôi nhờ lấy một gói đồ (tôi có biết Anh này bị nghiện) nhưng là bạn bè tôi cũng vô tư giúp đỡ. Khi lấy đồ thì bị công an bắt và nói trong đó có ma túy. Vậy, Tôi bị pháp luật xử lý như thế nào ? Cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Theo đó, thông tư liên tịch số 17 quy định tại mục 3.3, 3.7 quy định như sau :

“3.3. “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);

đ) Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.

Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.3 này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.”.

“3.7. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy cần phân biệt

a) Người nào đã bị kết án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 trên đây, nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 194 BLHS. Nếu là tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 194 của BLHS.b) Người nào bán trái phép chất ma túy cho người khác và còn cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để sử dụng trái phép chất ma túy thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 BLHS, người đó còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 198 BLHS;

c) Người nào biết người khác đi mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà gửi tiền nhờ mua hộ chất ma túy để sử dụng thì người nhờ mua hộ phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng chất ma túy đã nhờ mua hộ. Người đi mua phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy đã mua cho bản thân và mua hộ.d) Người nào biết người khác mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma túy và bị bắt giữ nếu số lượng chất ma túy đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy thì người đó là đồng phạm với người mua về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 BLHS.

đ) Người nào tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 mục 3 phần II Thông tư này mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác, nhưng chứng minh được là nhằm mục đích sử dụng trái phép chất ma túy, tuy đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 199 của BLHS”.

Như vậy, trong trường hợp chị nêu ra thì người người đi mua hộ (anh An) mua về sử dụng chịu trách nhiệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 249 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về tổng số lượng chất ma túy đã mua cho bản thân và mua hộ. Người nhờ mua hộ (anh Bình) mua về sử dụng chịu trách nhiệm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy về số lượng chất ma túy đã nhờ mua hộ. Tùy theo khối lượng, số lượng mua mà có hình thức xử lý khác nhau.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có quyền khởi kiện không khi đài báo đưa thông tin sai lệch ?