1. Mua sau khi dùng thử là gì ?

Mua sau khi dùng thử là quy định liên quan đến hợp đồng mua bán tài sản. Đây là một hình thức trong hợp đồng mua bán tài sản và được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Mua sau khi dùng thử là phương thức mua bán theo đó bên bán sẽ cung cấp cho bên mua một số sản phẩm để dử dụng, và nếu bên mua đồng ý thì sẽ thực hiện giao kết hợp đồng mua bán về loại tài sản đã dùng thử.

Hợp đồng mua bán tài sản có dùng thử là loại hợp đồng được ký kết sau thời hạn dùng thử nếu bên mua chấp nhận mua tài sản.

 

2. Quy định của pháp luật về mua sau khi dùng thử ?

Căn cứ theo quy định tại Điều 452 Bộ luật dân sự năm 2015 thì mua sau khi dùng thử được hiểu như sau :

Thứ nhất, các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua được dùng thử vật mua trong một thời hạn gọi là thời hạn dùng thử. Trong thời hạn dùng thử, bên mua có thể trả lời mua hoặc không mua; nếu hết thời hạn dùng thử mà bên mua không trả lời thì coi như đã chấp nhận mua theo các điều kiện đã thỏa thuận trước khi nhận vật dùng thử. Trường hợp các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về thời hạn dùng thử thì thời hạn này được xác định theo tập quán của giao dịch có đối tượng cùng loại.

Có thể thấy, khi giao kết hợp đồng mua bán, các bên có thể thỏa thuận về điều khoản cho phép bên mua được dùng thử vật mua nhưng chỉ được dùng thử trong một thời hạn nhất định. Thời hạn dùng thử do các bên thỏa thuận, pháp luật không quy định về thời hạn dùng thử tài sản. Tuy nhiên trên thực tế, các bên thường thỏa thuận về việc dùng thử trong một thời gian ngắn, thường là một vài ngày hoặc một vài tuần. Thời hạn dùng thử không được tính vào thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán tài sản.

Sau thời hạn dùng thử, nếu bên mua đồng ý mua thì đây là thời điểm hợp đồng mua bán mới phát sinh hiệu lực. Nếu bên mua trả lời không đồng ý mua thì hợp đồng mua bán tuy đã giao kết nhưng sẽ không phát sinh hiệu lực. Nếu bên mua im lặng thì pháp luật coi như bên mua đã chấp nhận mua theo các điều kiện đã thỏa thuận trước khi nhận vật dùng thử.

Ngoài ra, pháp luật cũng không bắt buộc bên bán tài sản phải sử dụng phương thức mua sau khi sử dụng mà bên bán chỉ áp dụng khi thấy cần thiết và phù hợp với điều kiện cùng tài sản được bán.

Thứ hai, trong thời hạn dùng thử, vật vẫn thuộc sở hữu của bên bán. Bên bán phải chịu mọi rủi ro xảy ra đối với vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong thời hạn dùng thử, bên bán không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố tài sản khi bên mua chưa trả lời.

Theo nguyên tắc chung của chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình được quy định tại khoản 1 Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2015 thì bên bán vẫn phải chịu mọi rủi ro về tài sản bởi vì tài sản vẫn đang thuộc sở hữu của bên bán do bên mua vẫn chưa có sự quyết định về việc có mua hay là không.

Về nguyên tắc, chủ sở hữu được quyền định đoạt tài sản của mình. Trong thời hạn dùng thử mặc dù bên bán vẫn là chủ sở hữu của tài sản nhưng bên mua là chủ thể đang có quyền đối với tài sản. Nên không để xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của bên mua thì trước khi bên mua trả lời, bên bán không có quyền bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố tài sản. Bên cạnh đó, nếu các bên có sự thỏa thuận khác về việc trong thời gian dùng thử, bên mua phải chịu rủi ro thì sự thỏa thuận đó được phép ưu tiên áp dụng. Sở dĩ xuất hiện quy định như vậy là do nhiều trường hợp trên thực tế, xuất hiện việc các bên thỏa thuận về việc bên mua chịu trách nhiệm khi rủi ro xảy ra bởi hành vi có lỗi của bên mua; bên bán chỉ chịu trách nhiệm thiệt hại do lỗi kỹ thuật khí sản xuất. Có thể thấy, sự thảo thuận như vậy là vô cùng hợp lý để bảo vệ và duy trì được lợi ích của bên bán và bên mua. Về phía bên bán sẽ hạn chế được thiệt hại nếu tài sản hư hỏng do lỗi của bên mua gây ra khi mà đã không bán được hàng mà hàng còn bị hư hỏng. Về phía bên mua thì cũng chỉ cần chịu trách nhiệm bởi hành vi có lỗi của mình mà thôi.

Thứ ba, trường hợp bên dùng thử trả lời không mua thì phải trả lại vật cho bên bán và phải bồi thường thiệt hại cho bên bán, nếu làm mất, hư hỏng vật dùng thử. Bên dùng thử không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn thông thường do việc dùng thử gây ra và không phải hoàn trả hoa lợi do việc dùng thử mang lại.

Trong thời hạn dùng thử, bên dùng thử phải bảo quản và giữ gìn tài sản cẩn thận, nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản thì phải bồi thường thiệt hại cho bên bán, trừ trường hợp bên dùng thử chấp nhận mua tài sản với các điều kiện đã thỏa thuận.

Nếu hết thời hạn dùng thử mà bên mua không mua thì phải trả lại tài sản cho bên bán. Như vậy, tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán có dùng thử ngoài việc thỏa mãn các điều kiện của đối tượng của hợp đồng mua bán theo quy định của Bộ luật dân sự thì tài sản dùng thử là vật tiêu hao mà khi hết thời hạn dùng thử, bên dùng thử không mua tài sản cũng không thể hoàn trả được tài sản đã tiêu hao. Bởi nếu tài sản mua bán theo phương thức sử dụng thử là vật tiêu hao thì vật sẽ không còn trong thời hạn dùng thử, hoặc chỉ còn một phần, hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu.

Trường hợp bên dùng thử tài sản gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản. Trong thời hạn dùng thử hao mòn tự nhiên của tài sản không phải bồi thường và những lợi ích mà bên dùng thử thu được không phải hoàn trả cho chủ sở hữu.

 

3. Quy định về phạt vi phạm nghĩa vụ mua sau khi dùng thử

Việc được dùng thử hàng hóa là chắc chắn nhưng việc có phải thanh toán tiền hàng hay không thì phụ thuộc vào nội dung của hợp đồng. Thông thường, rất ít người bán chấp nhận để người mua sử dụng sản phẩm của họ khi chưa thanh toán tiền, với hợp đồng có điều khoản dùng thử cũng vậy. Thực tế, người bán sẽ yêu cầu người mua đảm bảo giữ nguyên tem mác, thùng hộp, không làm hỏng hóc, trầy xước trong thời gian sử dụng thử là phù hợp với tập quán thương mại và quy định của pháp luật. Vi phạm nghĩa vụ này nếu gây thiệt hại, người mua có trách nhiệm bồi thường. Thỏa thuận phạt vi phạm nếu được quy định trong hợp đồng phải thực hiện theo Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau :

- Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm

- Mức phạt vi phạm do cá bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác

- Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.

Trên đây là toàn bộ bài viết của Luật Minh Khuê về nội dung mua sau khi sử dụng thử. Ngoài ra, quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản sau khi sử dụng thử để hiểu rõ hơn. Nếu còn bất kì vướng mắc nào hay gặp bất kì vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp kịp thời. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách hàng.