1. Mua bán quyền tài sản

Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 "Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác". Đây là một trong bốn loại tài sản được ghi nhận tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ví dụ: Quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ,...

Mua bán quyền tài sản khác với mua bán tài sản thông thường khác vì với những tài sản hữu hình thì có việc giao, nhận tài sản, bên mua nắm giữ tài sản trong tay. Còn quyền tài sản mang tính chất vô hình nên bên mua không nắm giữ tài sản trong tay được. Do đó, nếu mua bán quyền tài sản thì bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua để đảm bảo cho bên mua có quyền sở hữu đối với quyền tài sản. Còn bên mua thì phải trả tiền cho bên bán.

Theo quy định tại Điều 450 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 450. Mua bán quyền tài sản

1. Trường hợp mua bán quyền tài sản thì bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua, bên mua phải trả tiền cho bên bán.

2. Trường hợp quyền tài sản là quyền đòi nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà người mắc nợ không trả.

3. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định.

- Quyền đòi nợ là một loại tài sản dưới dạng quyền, đây là tài sản thuộc sở hữu của bên cho vay được quyền đòi bên vay phải thanh toán một khoản tiền nhất định. Hiện nay, bên cạnh việc thế chấp quyền đòi nợ thì việc mua bán đối với quyền đòi nợ cũng diễn ra rất phổ biến. Đặc biệt, hoạt động mua bán quyền đòi nợ ngày càng trở nên chuyên nghiệp với sự xuất hiện của các doanh nghiệp chuyên thu mua, bán nợ. Đối với tài sản mua bán là quyền tài sản là quyền đòi nợ thì trách nhiệm của người bán được quy định như sau: Trường hợp quyền tài sản là quyền đòi nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà người mắc nợ không trả.

Bản chất của việc mua bán nợ chính là việc chuyển giao quyền đòi nợ từ người có quyền sang cho chủ thể thứ ba, người mua quyền đòi nợ là bên thế quyền, về nguyên tắc, khi người có quyền đòi nợ đã bán quyền đòi nợ cho bên mua thì lúc này chủ thể của quan hệ đã được thay đổi. Bên bán nợ chấm dứt tư cách chủ thể của mình trong quan hệ nên họ không còn bất cứ quyền lợi và nghĩa vụ gì từ quan hệ. Do đó, bên bán nợ không phải chịu trách nhiệm liên quan đến việc trả nợ của bên mắc nợ, trừ khi họ cam kết về khả năng trả nợ của bên mắc nợ với bên mua quyền đòi nợ.

- Về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản cho bên mua:

+ Nếu quyền tài sản đó thuộc loại quyền không phải đăng ký quyền sở hữu (Ví dụ: Quyền đòi nợ) thì thời điểm chuyển quyền là thời điểm bên mua nhận được các giấy tờ chứng minh quyền đòi nợ của bên bán. Đối với các trường hợp không có giấy tờ chứng minh quyền (Ví dụ: Quyền đòi nợ trong trường hợp hợp đồng vay được xác lập dưới hình thức miệng) thì thời điểm chuyển quyền sở hữu quyền tài sản cho bên mua là thời điểm bên có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ đối với bên bán quyền.

+ Nếu quyền tài sản thuộc loại phải đăng ký (Ví dụ: Quyền sử dụng đất) thì thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản cho bên mua chính là thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền cho bên mua.

2. Bán đấu giá tài sản

Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. Phương thức trả giá lên là phương thức trả giá từ thấp lên cao cho đến khi có người trả giá cao nhất.

Bán đấu giá được thực hiện theo nguyên tắc công khai, liên tục, khách quan, trung thực, bình đẳng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia; Mọi cuộc bán đâu giá đêu phải do đấu giá viên điều hành theo đúng trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản do luật quy định.

Theo Điều 451 Bộ luật dân sự 2015:

>> Xem thêm:  Chuộc lại tài sản là gì ? Có được chuộc lại tài sản đã bán cho người khác không ?

Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Tài sản thuộc sở hữu chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Việc bán đấu giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.

3. Mua sau khi sử dụng thử

Tại Điều 452 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về hình thức mua sau khi sử dụng thử như sau:

Điều 452. Mua sau khi sử dụng thử

1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua được dùng thử vật mua trong một thời hạn gọi là thời hạn dùng thử. Trong thời hạn dùng thử, bên mua có thể trả lời mua hoặc không mua; nếu hết thời hạn dùng thử mà bên mua không trả lời thì coi như đã chấp nhận mua theo các điều kiện đã thỏa thuận trước khi nhận vật dùng thử.

Trường hợp các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về thời hạn dùng thử thì thời hạn này được xác định theo tập quán của giao dịch có đối tượng cùng loại.

2. Trong thời hạn dùng thử, vật vẫn thuộc sở hữu của bên bán. Bên bán phải chịu mọi rủi ro xảy ra đối với vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong thời hạn dùng thử, bên bán không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố tài sản khi bên mua chưa trả lời.

3. Trường hợp bên dùng thử trả lời không mua thì phải trả lại vật cho bên bán và phải bồi thường thiệt hại cho bên bán, nếu làm mất, hư hỏng vật dùng thử. Bên dùng thử không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn thông thường do việc dùng thử gây ra và không phải hoàn trả hoa lợi do việc dùng thử mang lại.

Mua sau khi dùng thử là phương thức mua bán theo đó bên mua và bên bán thỏa thuận về một thời gian dùng thử và kết thúc thời gian đó thì bên mua mới đưa ra quyết định mua tài sản.

Mặc dù Điều luật này không quy định cụ thể nhưng đối tượng của phương thức mua sau khi sử dụng thử chỉ có thể là vật không tiêu hao. Bởi lẽ, nếu tài sản mua bán theo phương thức sử dụng thử là vật tiêu hao thì vật sẽ không còn trong thời gian dùng thử (Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu).

4. Mua trả chậm, trả dần

Mua trả chậm, trả dần là phương thức mua bán đặc thù, tính chất đặc thù thể hiện ở phương thức thanh toán tiền của bên mua tài sản. Mua trả chậm là trường hợp bên mua đã nhận tài sản mua bán và chỉ phải thanh toán tiền mua sau một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với bên bán. Mua trả dần là trường hợp bên mua được nhận tài sản mua bán và phải thanh toán tiền mua tài sản thành nhiều lần trong một thời hạn nhất định.

Điều 453 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

Điều 453. Mua trả chậm, trả dần

1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Khác với hợp đồng mua bán thông thường, người mua được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản kể từ thời điểm chuyển giao tài sản hoặc thời điếm đăng kí sở hữu thì trong trường hợp mua bán trả chậm, trả dần thì bên bán có quyền bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản mua trả chậm, trả dần. Bên mua chỉ có quyền sở hữu đối với tài sản mua bán sau khi thanh toán đủ tiền mua. Đây là quy định nhằm bảo đảm quyền lợi của bên bán tài sản và nâng cao ý thức, trách nhiệm của người mua trong việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền mua bán.

Hình thức của hợp đồng mua trả chậm, trả dần phải bằng văn bản. Hình thức của mua bán trả chậm, trả dần được quy định chặt chẽ và yêu cầu cao hơn so với hợp đồng mua bán tài sản thông thường (cùng đối với một loại tài sản), bởi lẽ, thời gian của hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần thường kéo dài và phương thức thanh toán trong hợp đồng tương đối phức tạp. Bởi vậy, việc ghi nhận hình thức mua bán trả chậm, trả dần phải bằng văn bản nhằm tăng cao giá trị chứng minh của hợp đồng trong trường hợp các bên xảy ra tranh chấp.

Trong thời hạn mua trả chậm, trả dần, mặc dù bên bán được bảo lưu quyền sở hữu trong suốt thời gian trả chậm, trả dàn nhưng bên mua lại có toàn quyền sử dụng, khai thác tài sản để mang lại lợi ích cho mình. Do đó, bên mua phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

>> Xem thêm:  Quyền nhân thân là gì ? Quy định về quyền nhân thân trong pháp luật dân sự ?

5. Chuộc lại tài sản đã bán

Hình thức bán có chuộc lại là một hình thức mua bán đặc biệt, bởi lẽ, việc xác lập phương thức mua bán này lại đồng thời là căn cứ phát sinh một quan hệ mua bán tiếp sau (quan hệ chuộc lại tài sản thực chất là quan hệ mua bán tài sản). Và ở hai quan hệ mua bán này có sự hoán đổi về tư cách chủ thể giữa bên mua và bên bán, bên bán trong trong quan hệ mua bán đầu tiên (bán có chuộc lại tài sản) sẽ trở thành bên mua trong quan hệ chuộc lại tài sản và ngược lại, bên mua trong quan hệ mua bán đầu tiên sẽ trở thành bên bán trong quan hệ chuộc lại tài sản.

Về đối tượng của hợp đồng mua bán có chuộc lại: Ngoài việc thỏa mãn các điều kiện của đối tượng của hợp đồng mua bán theo quy định của Bộ luật dân sự, tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán có chuộc lại phải là tài sản không tiêu hao. Bởi vì nếu là tài sản tiêu hao thì việc chuộc lại tài sản không thể thực hiện được.

Thời gian chuộc lại tài sản được quy định tại Điều 454 Bộ luật dân sự 2015:

Thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì thời hạn chuộc lại không quá 01 năm đối với động sản và 05 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm giao tài sản, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong thời hạn này, bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý. Giá chuộc lại là giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trong thời gian chuộc lại, bên mua phải chịu mọi rủi ro xảy ra với tài sản. Tuy nhiên, nếu bên mua và bên bán đã thỏa thuận bên bán phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản trong thời gian chuộc lại thì ưu tiên áp dụng thỏa thuận của các bên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thế nào là quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hình thức của hợp đồng mua trả chậm, trả dần?

Trả lời:

Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Câu hỏi: Làm mất tài sản trong quá trình sử dụng thử tài sản thì phải bồi thường như thế nào?

Trả lời:

Trường hợp bên dùng thử trả lời không mua thì phải trả lại vật cho bên bán và phải bồi thường thiệt hại cho bên bán, nếu làm mất, hư hỏng vật dùng thử. Bên dùng thử không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn thông thường do việc dùng thử gây ra và không phải hoàn trả hoa lợi do việc dùng thử mang lại.

Câu hỏi: Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản?

Trả lời:

Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định.