1. Quy định của pháp luật về xử lý tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông đường bộ.

1.1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.

Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm đó như tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015 tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính quy định tại Điều 129 Bộ luật hình sự năm 2015 hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, về an toàn ở những nơi đông người quy định tại Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015.

1.2. Hành vi gây tai nạn giao thông đường bộ do sử dụng chất kích thích

Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

- Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia;

- Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn;

- Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

1.3, Mức bồi thường tai nạn giao thông:

Xác định thiệt hại:

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

-Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

-Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó. Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

+) Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

+) Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

+) Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

+) Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015

Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:

-Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.

-Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất.

Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 600 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 300 ngàn đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 300 ngàn đồng.

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 500 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.

1.4 Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

+)Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

+) Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

+)Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

+) Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

1.5. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động

Người bị thiệt hại cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

1.6. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

- Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn theo quy định của pháp luật hiện hành này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

- Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường."

>> Xem thêm: Mẫu biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông mới nhất

2. Tai nạn giao thông làm chết người ?

Em có chị ruột bị tai nạn giao thông và mất. Xe máy đang đi xát lề thì bị xe chở bê tông lấn và tông làm chị em mất. Bên công an nhận định là lỗi 100% là người lái xe bê tông, nhưng 5 tháng nay chưa giải quyết,gia đình họ cũng ko xuống nhà nói chuyện,còn chủ xe thì xuống đưa tiền làm đám cho gia đình em rồi,nhưng gia đình em chưa làm giấy bãi nại cho chủ xe. Gia đình bên em lên hỏi thì công an thì họ nói làm hồ sơ chuyển lên tòa án rồi ,bên công an họ nói chờ thêm nhanh nhất là 5 tháng nữa mới xử, xe gây tai nạn cũng không giữ. Người gây ra tai nạn của chị em cũng không bị tạm giam. Em hỏi luật sư vậy gia đình bên em phải làm như thế nào để đòi quyền lợi về cho mình. Bên phía công an điều tra vụ này làm như vậy có đúng ko?

Trả lời:

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Theo như bạn trình bày thì chủ xe có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Người gây tai nạn phải bồi thường cho gia đình bạn theo quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

"1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Về việc trả lại xe gây tai nạn căn cứ theo điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Theo như bạn trình bày thì công an đã nhận định 100% lỗi do người gây ra tai nạn vậy căn cứ theo điểm b, khoản 3, Điều 106 nêu trên thì cơ quan Công an không thu giữ xe gây tai nạn là đúng theo quy định của pháp luật.

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, một người bị khởi tố về hành vi nào đó thông thường phải trải qua 3 giai đoạn: điều tra, tru tố xét xử. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đối với vụ án của chị bạn thì thời hạn để giải quyết một vụ án hình sự kể từ khi khởi tố đến khi xét xử (sơ thẩm) phải trải qua 3 thời hạn tương ứng với 3 giai đoạn tố tụng như sau:

-Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.( Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).Thời hạn quyết định truy tố: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng (Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).Thời hạn chuẩn bị xét xử: Trong thời hạn 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án ( Điều 277,Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Vậy phải chờ 5 tháng 5 ngày thì một vụ án hình sự mới được đưa ra xét xử

Như vậy việc 5 tháng sau vụ án của chị bạn mới được xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

Đối với việc chủ xe chỉ đưa tiền mai táng mà không có ý kiến gì đối với việc bồi thường thì bạn có quyền viết đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

-Đơn khởi kiện theo mẫu

-Giấy báo tử; hóa đơn, giấy tờ về chi phí mai táng, giấy tờ của cơ quan công an liên quan đến vụ việc,

-Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (chungws thực) của người khởi kiện

-Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện.

4. Phải làm gì để giải quyết tai nạn giao thông khi bên gây tai nạn không chịu hợp tác để giải quyết đền bù thiệt hại ?

"Thưa luật sư, cho tôi xin phép được hỏi một vấn đề như sau: Xe ô tô của tôi bị xe khác đâm hỏng, người cũng bị thương, cảnh sát giao thông đã lập biên bản vi phạm, xác nhận là do lỗi của bên xe kia. Nay hết thời gian 30 ngày giải quyết nhưng người gây tai nạn không chịu hợp tác đền bù thiệt hại, phía cảnh sát nói phải trả lại phương tiện gây tai nạn.

Xin hỏi luật sư: nếu đã trả phương tiện như thế trong khi các bên không ký biên bản thoả thuận thì bên gây tai nạn sẽ bồi thường ra sao khi chúng tôi khởi kiện ra toà án. Theo tôi hiểu phương tiện gây tan nạn cũng phải được giữ lại trong quá trình điều tra, giải quyết việc khởi kiện có đúng không vì nếu trả phương tiện cho bên gây tai nạn họ không chịu bồi thường, tẩu tán tài sản thì lấy gì để bồi thường cho chúng tôi? xin chân thành cảm ơn."

Trả lời:

Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Về việc cảnh sát trả lại phương tiện gây tai nạn là đungs theo quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về xử lý vật chứng.

"b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;"

Cơ quan công an đã lập biên bản và xác nhận lỗi do bên gây tai nạn, vậy việc trả lại phương tiện không ảnh hưởng tới việc xử lý vụ án nữa.

Về việc bồi thường thiệt hại

Căn cứ Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Theo đó chủ sở hữu của xe gây tai nạn cho bạn phải bồi thường thiệt hại cho bạn đối với vụ tai nạn đó, nếu người gây tai nạn không phải là chủ sở hữu của chiếc xe đó thì người gây tai nạn là người phải bồi thường cho bạn trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Nếu người gây tai nạn không chịu thỏa thuận, bồi thường bạn có thể viết đơn yêu cầu tòa án giải quyết bồi thường thiệt hại.

6. Bồi thường thiệt hại khi gây ra tai nạn giao thông ?

"Xin chào luật sư ! Cho em hỏi: trong lúc tham gia giao thông em có va chạm với một người đi bộ là bé trai 12 tuổi trong lúc em này băng qua đường khiến em này bị gãy một chân. Lúc đó em đang chạy quá tốc độ, còn bé trai này lúc thì qua đường nhưng không quan sát xe, và chỗ bé qua đường cũng không có vạch kẻ hay đèn báo hiệu qua đường. Xin hỏi luật sư là theo luật thì em phải bồi thường cho em này ra sao, bị phạt như thế nào? Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Cảm ơn luật sư nhiều ạ!"

Bồi thường thiệt hại khi gây ra tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường thiệt hại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào khoản 3, điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Bạn không thuộc hai trường hợp trên, theo thông tin bạn cung cấp thì vụ việc của bạn do lỗi của hai bên. Vì vậy bạn phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Về các chi phí bồi thường, được quy định rất rõ tại điều 590 Luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp của bạn, bạn chưa nói rõ thiệt hại cụ thể của người bị thiệt hại nên mình chưa xác định được có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Tuy nhiên, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người bị đâm bị thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác.

Tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Tham khảo bài viết liên quan: Lái xe uống rượu say, điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê