1. Quy định chung về Tòa án nhân dân

Ở Việt Nam, hệ thống toà án nhân dân bao gồm Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự và các toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính...

Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ở địa phương có các toà án nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; các toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Trong quân đội nhân dân Việt Nam có toả án quân sự trung ương, các toà án quân sự quân khu và tương đương, các toà án quân sự khu vực.

2. Tổ chức hành chính của Tòa án Nhân dân các cấp

Mỗi cấp tòa án của Việt Nam đều được tổ chức như một “cỗ máy” với các bộ phận liên kết với nhau về mặt hành chính để tổ chức thực hiện chức năng của tòa án.

Tại Tòa án nhân dân tối cao có Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bộ máy giúp việc và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Đứng đầu Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Đây là chức danh đứng đầu ngành tòa án. Giúp việc cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có một số Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Ngoài ra, Hội đồng thầm phán Tòa án nhân dân tối cao còn có một số thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tổng số thành viên Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không dưới 13 người và không quá 17 người. Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao có một số đơn vị mang tính chất hành chính, ví dụ Văn phòng, Vụ tổ chức cán bộ, Vụ pháp chế và quản lí khoa học ...Những đơn vị này không có thẩm phán và không tổ chức xét xử.

Tại Tòa án dân dân các cấp có ủy ban thẩm phán Tòa án dân dân các cấp gồm từ 11 đến 13 thẩm phán (Điều 21, khoản 1 Điều 22 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 và Khoản 1 Điều 31 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014), một số tòa chuyên trách gồm Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên. Các đơn vị này đều là các đơn vị chuyên môn, có thẩm phán làm việc và trực tiếp tổ chức xét xử các vụ án. ủy ban thẩm phán thực hiện thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm; các tòa chuyên trách tổ chức xét xử phúc thẩm đối với các vụ việc có bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của tòa án nhân dân cấp tỉnh trực thuộc, xếp theo thứ bậc hành chính, đứng đầu Tòa án dân dân các cấp là Chánh án, giúp việc có một số Phó Chánh án sau đó là các Chánh tòa chuyên trách, giúp việc có một số Phó Chánh tòa. Bên cạnh các đơn vị chuyên môn, Tòa án dân dân các cấp còn có một số đơn vị hành chính giúp việc, ví dụ Văn phòng, Phòng tổ chức cán bộ ... (Điều 30, 31 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014).

Tại tòa án nhân dân cấp tỉnh được tổ chức tương tự Tòa án dân dân các cấp, gồm có ủy ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh, một số tòa chuyên trách gồm Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên và bộ máy giúp việc. Tuy nhiên, khác với Tòa án dân dân các cấp, tại tòa án nhân dân cấp tỉnh chỉ có các tòa chuyên trách là đơn vị tổ chức xét xử các vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tức là xét xử cả cấp sơ thẩm và phúc thẩm, ủy ban thẩm phán và các đơn vị khác chỉ là các đơn vị hành chính. Đứng đầu tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng là Chánh án, giúp việc có một số Phó Chánh án, sau đó là các Chánh tòa, giúp việc có Phó Chánh tòa.

Tại tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay chưa được tổ chức thành các đơn vị chuyên môn như hai cấp tòa án trên, mặc dù pháp luật hiện hành cho phép như vậy (Điều 38, 39 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 và Khoản 1 Điều 45 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014). Ngoài các thẩm phán, tòa án nhân dân cấp huyện có bộ máy giúp việc. Đứng đầu tòa án nhân dân cấp huyện là Chánh án, giúp việc có Phó Chánh án (Khoản 2, 3 Điều 45 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014).

3. Khái niệm và đặc điểm của thẩm quyền Tòa án

Mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyển hoạt động trong một lĩnh vực nhất định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật đã quy định. Các cơ quan này tuyệt đối không được phép hoạt động ra ngoài thẩm quyển của mình. Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định được hiểu là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước đó. Sự phân định thẩm quyền là điểu kiện cần thiết bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động bình thường, không chồng chéo, dẫm chân lên nhau.

Tòa án là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Trong hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam thì Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp chủ yếu, vối chức năng, thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và các vụ việc khác mà pháp luật quy định để bảo vệ pháp luật và sự công bằng xã hội.

Như vậy, quyền xem xét giải quyết vụ việc hình sự, dân sự, hành chính và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó là nội dung quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành thẩm quyền chung của Tòa án.

Trong hệ thống tổ chức Tòa án Việt Nam vừa có các Tòa theo cấp hành chính và cũng có các đơn vị có các chức năng, nhiệm vụ chuyên biệt đó là các Tòa chuyên về từng loại việc như các Tòa chuyên trách ỏ Tòa án nhân dân tối cao và cũng có Tòa được giải quyết tất cả các loại việc ví dụ như Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tốì cao. Do đặc thù về tổ chức hệ thống Tòa án nên quan niệm về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự cũng có những điểm khác biệt. Vì thế, khi nghiên cứu về thẩm quyển Tòa án phải tiếp cận dưới bốn góc độ đó là: thẩm quyền của Tòa án theo loại việc, thẩm quyền của Tòa án theo cấp xét xử như thẩm quyền xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm và thẩm quyền của Tòa án theo các cấp hành chính, lãnh thổ và thẩm quyền xét xử theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu.

Như vậy, thẩm quyền với nghĩa là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề, do đó có thể định nghĩa thẩm quyền giải quyết các vụ việc về dân sự của Tòa án là quyền thụ lý xem xét ban hành các quyết định khi giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự.

Khác với thẩm quyển xét xử các vụ án hình sự, hành chính là thể hiện quyền uy của Nhà nước là chủ yếu và tuân theo tố tụng hình sự, hành chính thì thẩm quyền về dân sự của Tòa án có những đặc điểm sau:

- Phạm vi xem xét, giải quyết và ban hành quyết định của Tòa án được giới hạn bởi yêu cầu của đương sự. Tòa án không được quyền ra quyết định vượt quá yêu cầu của đương sự.

- Tòa án phải tôn trọng quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt, tự nguyện không trái pháp luật của đương sự.

- Thẩm quyển về dân sự của Tòa án được thực hiện theo pháp luật tố tụng dân sự.

4. Mục đích, ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền của Tòa án

Hệ thống Tòa án không thể hoạt động có hiệu quả nếu không xác định rõ thẩm quyển theo loại việc, theo lãnh thổ và thẩm quyển của các cấp Tòa án. Hoạt động của bộ máy Tòa án sẽ rối loạn, đẫm chân lên nhau nếu không xác định thẩm quyền của các Tòa án một cách hợp lý. Vì vậy, việc xác định thẩm quyền của Tòa án một cách chính xác, thật sự khoa học sẽ tránh được sự chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ quan nhà nước khác, giữa các Tòa án với nhau, giữa các Tòa trong một Tòa án góp phần làm cho các Tòa án giải quyết đúng đắn, có hiệu quả các vụ việc dân sự, tạo điều kiện cho các bên đương sự tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tiết kiệm được thời gian, công sức, các chi phí, giảm bốt các phiền hà cho đương sự và cho cả Tòa án.

Việc xác định thẩm quyền một cách hợp lý, khoa học còn tạo điều kiện chọ các Thẩm phán tích lũy kinh nghiệm, có kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực mà Thẩm phán đảm nhận, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc dân sự.

Hiện nay, việc phân định thẩm quyền của Tòa án vẫn còn có điểm không hợp lý chưa tạo ra sự chuyên sâu cho các Thẩm phán, cũng như thực hiện nguyên tắc độc lập khi xét xử. Vì vậy, một trong những mục tiêu trong cải cách tư pháp hiện nay là tổ chức lại cơ cấu tổ chức Tòa án hợp lý hơn nữa, từ đó có cải tiến trong phân định thẩm quyền của Tòa án, xây dựng những Tòa chuyên biệt về từng loại vụ việc ở Tòa án các cấp là một việc cần thiết.

5. Phân loại thẩm quyền của Tòa án

5.1. Thẩm quyền của Tòa án theo loại việc

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo loại việc là tổng hợp các loại vụ việc về dân sự mà Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (TTDS). Thẩm quyền về loại việc của Tòa án sẽ phân định với những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác.

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 được xây dựng dựa trên Hiến pháp năm 2013 và theo đó nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận tại Điều 4 BLTTDS năm 2015. Đáng chú ý là sự bổ sung khoản 2 Điều luật này: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”, đây có thể nói là sự thay đổi quan trọng nhất của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý của người dân được thực hiện.

5.2. Thẩm quyền của Tòa án theo cấp

Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 quy định về hệ thống tổ chức Tòa án thì TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các VADS. Do vậy, việc xác định đúng thẩm quyền của Tòa án theo cấp chỉnh là việc xác định xem đối với một VADS cụ thể TAND cấp huyện hay TAND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giải quyết. Việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo cấp được quy định tại Điều 35, 37 BLTTDS năm 2015 dựa trên tính chất phức tạp của từng loại vụ việc, dựa vào điều kiện cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ thực tế của đội ngũ cán bộ Tòa án.

5.3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của các bên đương sự

Về nguyên tắc việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ phải được tiến hành dựa trên cơ sở bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nhưng vẫn đảm bảo Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án thuận lợi nhất cho việc tham gia tố tụng của đương sự, là Tòa án có điều kiện thuận lợi nhất để giải quyết vụ án. Về căn bản các quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ tại Điều 39 và Điều 40 BLTTDS năm 2015 đã kế thừa các quy định của BLTTDS trước đây.