1. Cơ quan có thẩm quyền cung cấp dữ liệu về đất đai
Theo quy định tại Điều 15 của Thông tư 34/2014/TT-BTNMT về xây dựng, quản lý, và khai thác hệ thống thông tin đất đai do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, các cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở cả Trung ương và địa phương được chỉ định cụ thể. Trong đó:
Tại Trung ương, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai là Trung tâm Dữ liệu và Thông tin đất đai, thuộc Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Đối với cấp địa phương, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai là văn phòng đăng ký đất đai.
Trong trường hợp địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, quy định rõ ràng về trách nhiệm của UBND cấp xã. Cụ thể, văn phòng đăng ký đất đai và UBND cấp xã đều có trách nhiệm cung cấp dữ liệu đất đai từ hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý hồ sơ địa chính của mình. Điều này nhấn mạnh trách nhiệm của cấp xã trong việc cung cấp thông tin đất đai, đặc biệt là khi chưa có cơ sở dữ liệu đất đai chính thức nào được xây dựng.
Những quy định này giúp đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin đất đai, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý, khai thác, và sử dụng thông tin đất đai một cách hiệu quả tại cả cấp Trung ương và địa phương.
2.Quy trình cung cấp dữ liệu về đất đai
Theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Luật đất đai 2013, cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai phải chịu trách nhiệm tạo điều kiện và cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Thông tư 34/2014/TT-BTNMT tiếp tục điều chỉnh thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin đất đai theo các bước chi tiết như sau:
Bước 1: Nộp phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu cho cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai
Theo Điều 11 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, tổ chức và cá nhân nhu cầu khai thác dữ liệu đất đai phải nộp phiếu yêu cầu hoặc gửi văn bản yêu cầu theo Mẫu số 01/PYC. Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai là văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh, có chi nhánh ở các huyện hoặc UBND cấp xã theo quy định.
Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ
Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai sau khi tiếp nhận hồ sơ sẽ xử lý và thông báo về nghĩa vụ tài chính (nếu có) đối với tổ chức hoặc cá nhân đó. Trong trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cơ quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Các lý do từ chối được liệt kê tại Điều 13 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, bao gồm nội dung yêu cầu không rõ ràng, không chính xác; yêu cầu vượt quá phạm vi bí mật nhà nước; thiếu chữ ký, tên, địa chỉ cụ thể của người yêu cầu, và mục đích sử dụng dữ liệu không phù hợp theo quy định.
Bước 3: Trả kết quả
Sau khi tổ chức hoặc cá nhân thực hiện nghĩa vụ tài chính, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện cung cấp thông tin theo yêu cầu đã đề ra. Quá trình này đảm bảo sự minh bạch và chính xác trong việc cung cấp thông tin đất đai và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
3. Mục đích yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai
Theo quy định của pháp luật về đất đai, dữ liệu đất đai là thông tin về đất đai được biểu diễn dưới dạng số, có thể hiển thị qua ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh, hoặc các hình thức tương tự. Cơ sở dữ liệu đất đai là tập hợp các dữ liệu về đất đai được tổ chức, sắp xếp để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua các phương tiện điện tử. Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia được xây dựng thống nhất trên toàn quốc và bao gồm nhiều thành phần quan trọng như văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, địa chính, điều tra cơ bản về đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, thống kê, kiểm kê đất đai, và nhiều cơ sở dữ liệu khác liên quan đến đất đai.
Để đáp ứng mục tiêu của Cuộc cách mạng công nghệ 4.0, ngành quản lý đất đai đã tiến hành xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai trên toàn quốc theo hướng hiện đại hóa. Điều này giúp tạo nền tảng cho triển khai Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử và đô thị thông minh. Quản lý đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo minh bạch trong quản lý đất đai, đồng thời giúp ngăn chặn các vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý đất đai.
Hệ thống thông tin đất đai cũng liên kết với nhiều hệ thống thông tin khác để đưa ra các thông tin hỗ trợ cho việc điều hành quản lý và xem xét hiệu quả sử dụng nguồn vốn đất đai. Kết nối này giúp đảm bảo sự liên thông cải cách thủ tục hành chính giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các ngành khác như Thuế, Hải quan. Thông qua các thông tin về hiện trạng sử dụng đất đai, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, giá trị đất đai, hệ thống này giảm thiểu rủi ro trong quá trình chuyển nhượng nhà đất và hạn chế việc đầu cơ, thổi giá nhà đất, từ đó ổn định phát triển kinh tế.
Hệ thống thông tin đất đai đồng thời phục vụ đắc lực cho việc hình thành và phát triển thị trường chuyển quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản. Cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin về đất đai, hệ thống này giúp giảm thiểu rủi ro không đáng có trong quá trình chuyển nhượng và hạn chế việc đầu cơ, thổi giá nhà đất, giữ cho thị trường bất động sản ổn định và phát triển bền vững. Ngoài ra, hệ thống thông tin đất còn kết nối với các hệ thống thông tin khác để phục vụ nhiều mục tiêu đặc biệt như an ninh quốc phòng, phòng cháy chữa cháy, và phòng chống tội phạm.
4. Thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin đất đai
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 12 của Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, thời hạn cung cấp dữ liệu đất đai được xác định như sau:
Trong trường hợp nhận được yêu cầu trước 15 giờ, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai phải tiến hành cung cấp ngay trong ngày đó; còn đối với yêu cầu nhận được sau 15 giờ, thì quá trình cung cấp dữ liệu đất đai sẽ được thực hiện vào ngày làm việc tiếp theo.
Nếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai dưới hình thức tổng hợp thông tin, thì thời hạn cung cấp dữ liệu sẽ được xác định theo thỏa thuận giữa cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai và người có yêu cầu thông qua việc ký kết hợp đồng. Thỏa thuận trong hợp đồng này sẽ quy định rõ thời gian cụ thể và các điều kiện liên quan đến quá trình cung cấp dữ liệu.
Điều này giúp tạo ra sự linh hoạt trong quá trình cung cấp thông tin đất đai, đồng thời đảm bảo tính chính xác và đúng đắn của dữ liệu. Việc xác định rõ thời hạn giúp tăng cường hiệu suất trong quản lý và sử dụng thông tin đất đai, đồng thời đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ các yêu cầu từ phía người dùng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Thông tư 34/2014/TT-BTNMT, việc cung cấp dữ liệu đất đai sẽ liên quan đến việc thu phí và các chi phí khác, bao gồm:
Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai: Người yêu cầu thông tin đất đai sẽ phải thanh toán một khoản phí nhất định để khai thác và sử dụng các tài liệu liên quan đến đất đai. Phí này có thể phản ánh chi phí cho quá trình tìm kiếm, xử lý và cung cấp thông tin.
Chi phí in ấn, sao chụp hồ sơ, tài liệu: Nếu người yêu cầu muốn nhận bản in hoặc bản sao của hồ sơ, tài liệu đất đai, họ sẽ phải chịu chi phí in ấn và sao chụp. Điều này bao gồm cả công đoạn sao chụp các văn bản, biểu mẫu và hồ sơ liên quan.
Chi phí gửi tài liệu (nếu có): Nếu người yêu cầu ở xa và muốn nhận tài liệu thông qua dịch vụ gửi, họ sẽ phải thanh toán chi phí liên quan đến việc đóng gói, vận chuyển và gửi tài liệu.
Những chi phí này đều nhằm hỗ trợ chi phí hoạt động của cơ quan cung cấp thông tin đất đai và đồng thời đảm bảo rằng quá trình cung cấp dữ liệu diễn ra một cách hiệu quả và bền vững.
Trên đây là nội dung bài viết "Mục đích yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai", nội dung trên mang tính chất tham khảo nếu quý khách hàng có vướng mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi qua hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ, tư vấn. Rất mong được hợp tác với quý khách hàng. Cảm ơn và trân trọng ./.