1. Khái niệm thống kê, kiểm kê đất đai

Thống kê, kiểm kê đất đai là việc làm thường kỳ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm nắm chắc về số lượng đất đai và diên biến đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng. Nội dung này là một trong những nội dung có từ lâu đời nhất của công tác quản lý nhà nước về đất đai. Bất kể xã hội nào, trong quản lý nhà nước về đất đai đều cần phải thống kê, kiểm kê đất đai.
Theo Luật Đất đai 2013 thì: Thông kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần thống kê. Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê.

2. Đặc điểm cơ bản của thống kê đất đai

- Đặc điểm cơ bản nhất của thống kê đất đai là phải dựa trên cơ sở bản đồ. Thống kê đất đai muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đo đạc lập bản đồ để tính diện tích. Thửa đất tuy có vị trí cố định nhưng trong quá trình sử dụng do tác động của con người và thiên nhiên luôn có biến động về loại đất, chủ sử dụng và hình thể..vì vậy cần thường xuyên chỉnh lý bản đồ, sổ sách địa chính cho phù hợp với thực địa.
- Đặc điểm thứ hai là số liệu thống kê đất đai có ý nghĩa pháp lý chặt chẽ. Số liệu thống kê phải gắn liền với cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất đối với từng thửa đất cụ thể, công tác thống kê muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đăng ký đất. Kết quả công tác đăng ký đất càng tốt và sự phối hợp thực hiện các nội dung nhiệm vụ quản lý đất càng đồng bộ thì giá trị pháp lý của số liệu thống kê đất càng nâng cao.
Các đặc điểm trên làm cho việc thực hiện công tác thống kê đất cần nhiều lao động, vật tư, kỹ thuật, thời gian, kinh phí.. người làm công tác thống kê đất phải được đào tạo có trình độ chuyên môn đầy đủ mới có thể thực hiện được. Đặc điểm này đã quyết định chỉ có ngành địa chính mới có thể thực hiện được công tác thống kê một cách chính xác, khoa học và đầy đủ.
Hoạt động thống kê, kiểm kê đất đai nhằm các mục đích sau: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; làm căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo. Xây dựng tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xác định nhu cầu sử dụng đất đáp ứng cho việc thực hiện chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, của các ngành, các địa phương; thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm của Nhà nước.Đề xuất việc điều chỉnh chính sách, pháp luật, quy hoạch về đất đai.Công bố số liệu về đất đai trong niên giám thống kê quốc gia; phục vụ nhu cầu sử dụng dữ liệu về đất đai cho quản lý nhà nước, hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, nghiên cứu khoa học, giáo dục - đào tạo và các nhu cầu khác của cộng đồng.
Việc thu thập số liệu trong thống kê đất đai được thực hiện trực tiếp từ hồ sơ địa chính trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã. Việc thu thập số liệu trong thống kê đất đai trên địa bàn đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả nước được tổng hợp từ số liệu thu thập trong thống kê đất đai của các đơn vị hành chính trực thuộc. Việc thu thập số liệu trong thống kê đất đai trên địa bàn các vùng lãnh thổ được tổng hợp từ số liệu thu thập trong thống kê đất đai của các tỉnh thuộc vùng lãnh thổ đó.
Tổng diện tích các loại đất theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai phải bằng diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai, trường hợp diện tích tự nhiên theo số liệu thống kê, kiểm kê khác với diện tích tự nhiên đã công bố thì phải giải trình rõ nguyên nhân.
Số liệu thống kê đất đai phải phản ảnh đầy đủ tình trạng sử dụng đất thể hiện trong hồ sơ địa chính; số liệu kiểm kê đất đai phải phản ảnh đầy đủ hiện trạng sử dụng đất thực tế; diện tích đất đai không được tính trùng, không được bỏ sót trong số liệu thống kê, kiểm kê đất đai; số liệu đất đai thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất phải thững nhất với số liệu kiểm kê đất đai tại thời điểm kiểm kê.

3. Các hình thức thống kê đất đai

Để thực hiện mục đích đã đề ra, ở nước ta hiện nay có hai hình thức thống kê đất đai:

3.1 Báo cáo thống kê định kỳ

Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức thống kê đất đai thường xuyên, định kỳ theo nội dung, phương pháp, chế độ báo cáo đã quy định thống nhất.
Hiện nay việc thống kê đất đai được tiến hành một năm một lần, việc kiểm kê đất đai được tiến hành năm năm một lần theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013.

3.2 Điều tra thống kê chuyên về đất

Điều tra thống kê chuyên về đất là hình thức tổ chức điều tra thống kê đất đai không thường xuyên, được tiến hành theo một kế hoạch, nội dung, phương pháp quy định riêng cho mỗi lần điều tra.
Hình thức này áp dụng khi chưa có quy định về báo cáo thống kê định kỳ và khi cần nghiên cứu sâu về một nội dung nào đó mà trong báo cáo định kỳ không có.

4. Các phương pháp thống kê đất đai

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để thu thập tư liệu hình thành nên các số liệu thống kê về đất đai. Tuỳ theo điều kiện về nguồn dữ liệu và khẳ năng thu thập thông tin, các số liệu thống kê về đất đai sẽ được hình thành bằng phương pháp tiếp cận trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp.

4.1 Phương pháp thống kê trực tiếp

Phương pháp thống kê trực tiếp là phương pháp hình thành nên các số liệu thống kê về đất đai dựa trên kết quả đo đạc, lập bản đồ và đăng ký đất đai. Như vậy, điều kiện để thực hiện thống kê trực tiếp là phải có các hồ sơ địa chính; các căn cứ và cơ sở để thực hiện thống kê là cácơ bảnản đồ và hồ sơ địa chính được hình thành và cập nhật ở các cấp cơ sở, nên công việc thống kê phải được tiến hành trình tự từ cấp xã trở lên.

Thống kê đất đai từ kết quả đăng ký đất ban đầu: ở các xã, phường đã thực hiện đăng ký, cấp GCNQSD đất thì các dữ liệu phục vụ thống kê đất coi như đã có đầy đủ. Căn cứ để thực hiện thống kê là “Sổ mục kê đất” đã được kiểm tra và nghiệm thu. Căn cứ vào các số liệu tổng hợp trong các biểu ở cuối sổ mục kê đất để sao chép và tổng hợp thành số liệu phù hợp với các thông tin yêu cầu trong các biểu thống kê đất.

Đối với các xã có thời điểm đăng ký đất đai ban đầu cách xa thời điểm thống kê, trong khoảng thời gian đó trên thực tế có một số biến động về đất đai nhưng trong sổ sách, hồ sơ địa chính và bản đồ chưa được cập nhật kịp thời, các số liệu chưa được điều chỉnh và các biến động thường xuyên chưa được theo dõi..thì các dữ liệu trong hồ sơ địa chính không phù hợp với thực địa. Trong trường hợp này, trước khi thực hiện thống kê đất đai phải tổ chức chỉnh lý bản đồ sổ sách bằng cách: mang bản đồ ra thực địa đối chiếu, chỉnh lý hình thể, loại đất, đo đạc và tính lại diện tích; sau đó chỉnh lý lại sổ sách đối với các thửa đất có biến động về hình thể, diện tích, loại đất, mục đích sử dụng, chủ thể sử dụng..và tổng hợp
lại trong sổ mục kê đất. Các dữ liệu ở sổ mục kê đất sau khi được chỉnh lý phù hợp với hiện trạng sử dụng đất mới được đưa vào các biểu thống kê đất. Những số liệu về sự biến động đất đai thu được sau khi điều chỉnh sẽ được đưa vào biểu thống kê tình hình biến động đất đai.

4.2 Phương pháp thống kê gián tiếp

Phương pháp thống kê gián tiếp là phương pháp dựa trên các nguồn số liệu trung gian sẵn có để tính toán ra các số liệu thống kê đất đai. Phương pháp này nhìn chung không chính xác và thiếu cơ sở pháp lý. Tuy vậy nó là phương pháp duy nhất để xác định được các số liệu thống kê về đất đai đối với những nơi chưa có điều kiện đo đạc lập bản đồ , hoặc các các thông tin biến động trong kỳ không được đăng ký, quản lý, theo dõi và cập nhật. Nó cũng là phương pháp được sử dụng để xác định các số liệu thống kê của một vùng hoặc trong cả nước mà không cần, hoặc không có điều kiện tiến hành tuần tự các bước thống kê trực tiếp từ cấp cơ sở.
Phương pháp thống kê gián tiếp phải sử dụng các thông tin nhiều nguồn số liệu khác nhau. Nguyên tắc chung cho các việc khai thác các thông tin từ nhiều nguồn số liệu khác nhau là :
+ Phải kiểm tra hoàn thiện số liệu để loại bỏ các số liệu bất hợp lý, các số liệu không đủ tin cậy, những số liệu mâu thuẫn giữa các nguồn khác nhau.
+ ưu tiên sử dụng các nguồn số liệu có chất lượng cao, có độ tin cậy và được da số các nghành tin dùng
+ Phải khống chế và cân đối các loại đất đai trong vùng bằng tổng diện tích tự nhiên trong địa giới hành chính vẫn được sử dụng từ trước đến nay, hoặc diện tích tính được dựa trên bản đồ địa giới.
Các nguồn thể sử dụng làm căn cứ tính toán:
+ Biểu thống kê diện tích đất đai của kỳ báo cáo trước. Nguồn số liệu này thường được sử dụng làm cơ sở gốc để tính toán. Trên cơ sở số liệu gốc, căn cứ vào các số liệu biến động của từng loại đất để chỉnh lý số liệu gốc thành sử dụng của kỳ báo cáo.
Những số liệu bổ sung để chỉnh lý là:
+ Số liệu giao đất theo Nghị định 64/CP và Nghị định 02/CP.
+ Số liệu kiểm kê, thống kê rừng.
+ Số liệu thu thuế sử dụng đất.
+ Số liệu giao đất ở, đất chuyên dùng.
+ Số liệu khai hoang và đưa vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.
+ Các nguồn số liệu khác liên quan đến quỹ đất đai các loại.
Sau khi thu thập được các nguồn số liệu về biến động diện tích các loại đất trong kỳ, tiến hành lập bảng cân đối biến động đất đai để tính diện tích đất đai các loại của kỳ báo cáo.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê