Hiện nay, vẫn còn rất nhiều hộ gia đình thuộc diện được hưởng những chính sách của nhà nước, cần được cộng đồng giúp đỡ để có thể vươn lên trong cuộc sống, ổn định an sinh xã hội, đồng thời giúp họ có điều kiện được tiếp cận với những thông tin và dịch vụ tốt hơn trong cuộc sống.

 

1. Hiểu như thế nào về hộ nghèo?

Theo điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP hộ nghèo là:

- Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiế hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản được quy định tại Phụ lục của Nghị định này.

Chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản Ngưỡng thiếu hụt
Việc làm Ít nhất 01 người không có việc làm/ có việc làm nhưng không có hợp đồng lao động.
Người phụ thuộc trong hộ gia đình

Tỷ lệ người phụ thuộc lớn hơn 50%

Người phụ thuộc gồm:

-Trẻ em dưới 16 tuổi;

- Người cao tuổi;

- Người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.

Dinh dưỡng Ít nhất 01 trẻ dưới 16 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao/ suy dinh dưỡng cân nặng theo đuổi
Bảo hiểm y tế Ít nhất 01 người từ đủ 6 tuổi trở lên hiện không có bảo hiểm y tế
Trình độ giáo dục của người lớn

Ít nhất một người từ 16 - 30 tuổi:

- Không tham gia các khóa đào tạo

- Không có bằng cấp, chứng chỉ giáo dục so với độ tuổi tương ứng.

Tình trạng đi học của trẻ em Ít nhất 01 trẻ em từ 03 - dưới 06 tuổi không được học đúng cấp bậc, cấp học phù hợp độ tuổi
Chất lượng nhà ở

Sống trong ngôi nhà/ căn hộ thuộc loại không bền chắc.

Kết cấu chính là tường, cột, mái nhà thì có ít nhất 02 kết cấu được làm bằng vật liệu không bền chắc

Diện tích nhà ở Diện tích bình quân đầu người nhỏ hơn 8m2
Nguồn nước sinh hoạt Không tiếp cận được nguồn nước sạch
Nhà tiêu hợp vệ sinh Không sử dụng hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh
Sử dụng dịch vụ viễn thông Không có thành viên nào sử dụng internet
Phương tiện tiếp cận thông tin

Không có phương tiện tiếp cận thông tin:

-Tivi, radio, máy tính để bàn, điện thoại;

- Máy tính xách tay, máy tính bảng điện thoại thông minh

Như vậy, chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu trên, 1 hộ gia đình sẽ được xem xét hưởng chế độ hộ nghèo. Với tiêu chuẩn để công nhận hộ nghèo như hiện tại rất phù hợp với mức giá sinh hoạt ngày càng đắt đỏ. Cụ thể, nếu so với những năm trước đây, điều kiện về thu nhập bình quân đầu người/tháng đã được điều chỉnh tăng gấp đôi (từ 2016 đến hết 2021, tiêu chuẩn hộ nghèo ở nông thôn có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 700.000 đồng trở xuống, ở thành thị từ 700.000 - 01 triệu đồng).

 

2. Hộ nghèo được hưởng những ưu đãi, hỗ trợ nào từ Nhà nước?

Bởi sự thiếu hụt về các chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản nên hộ nghèo sẽ được hưởng các chế độ sau:

- Hỗ trợ 100% chi phí khám, chữa bệnh

- Miễn học phí cho học sinh, sinh viên

- Người thuộc hộ nghèo có thể được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng

- Được hỗ trợ vay vốn để sản xuất, kinh doanh

- Hỗ trợ tiền điện sinh hoạt hàng tháng

Những ưu đãi và hỗ trợ trên đây được thực hiện khi hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền Nhà nước. 

 

3. Mức hỗ trợ tiền điện sinh hoạt hàng tháng cho hộ nghèo

Tại điểm a Khoản 2 Điều 1 thông tư số 190/2014/TT-BTC quy định về thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hộ có quy định đối tượng được hỗ trợ tiền điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt là một trong những hộ gia đình sau:

- Hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo tiêu chí quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 về các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nếu có (Sau đây gọi là hộ nghèo); Trường hợp địa phương có hộ nghèo theo chuẩn quy định của địa phương cao hơn chuẩn hộ nghèo quốc gia thì thực hiện theo chuẩn hộ nghèo thực tế tại từng địa phương, kinh phí hỗ trợ tiền điện cho số hộ nghèo có chuẩn nghèo cao hơn chuẩn quốc gia do ngân sách địa phương đảm bải theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Về mức hỗ trợ, phương thức hỗ trợ và thời gian thực hiện đối với tiền điện sinh hoạt hàng tháng cho hộ nghèo (theo Điều 2 thông tư số 190/2014/TT-BTC).

- Mỗi hộ nghèo chỉ được hưởng một mức hỗ trợ tiền điện. Mức hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành là 46.000 đồng/hộ/tháng.

- Phương thức hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội: chi trả trực tiếp theo hình thức hỗ trợ bằng tiền từng quý đến hộ nghèo.

- Thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội được thực hiện từ ngày 01 tháng 06 năm 2014 theo quy định tại Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07 tháng 04 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ.

Nguồn kinh phí để thực hiện hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo sẽ từ ngân sách nhà nước đảm bảo nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Thông tư này.

Theo đó, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ 100% kinh phí cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Đối với các địa phương có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách Trung ương dưới 50% thì Ngân sách Trung ương hỗ trợ 50% kinh phí, 50% kinh phí còn lại do ngân sách địa phương đảm bảo. Các địa phương còn lại ngân sách địa phương tự đảm bảo.

 

4. Thực tế áp dụng chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo hiện nay

Để được hưởng sự hỗ trợ và được mua điện theo giá ưu đãi phải đảm bảo 2 yêu cầu: thứ nhất là hộ nghèo, hộ có thu nhập thấp và thứ hai là phải chứng minh bằng hóa đơn tiền điện hàng tháng của mình thường xuyên sử dụng điện không quá 50 kWh. Trên thực tế, rất nhiều hộ không đảm bảo yêu cầu thứ hai nên không đến đăng ký để nhận sự hỗ trợ.

Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Thông tư số 05 của Bộ Công Thương, các hộ dùng điện sau công ty tổng muốn được hưởng giá điện sinh hoạt cho hộ nghèo, hộ thu nhập thấp phải đăng ký và được chính quyền địa phương xác nhận. Khi áp dụng vào thực tiễn, ở một số địa phương, việc theo dõi số hộ sử dụng điện sau công tơ tổng này gặp rất nhiều khó khăn do các tổ chức kinh doanh điện ở nông thôn, khu tập thể, cụm dân cư (không phải của ngành điện) không có sổ sách rõ ràng.

Một bất cập nữa là: nếu hộ nghèo thuộc diện được hỗ trợ, sử dụng không hết kWh vượt quá mức hỗ trợ 30.000 đồng của Chính phủ sẽ không được thanh toán tiền thừa và nếu sử dụng vượt quá 50 kWh/ tháng sẽ không được hỗ trợ mà phải thanh toán theo bậc thang giá điện bình quân.

Thực tiễn áp dụng còn nhiều hạn chế, tuy nhiên với nguồn hỗ trợ tiền điện hàng tháng từ Nhà nước đến các hộ gia đình sẽ phần nào giúp họ vượt qua khó khăn.

Mọi sự thắc mắc quý bạn đọc xin liên hệ tổng đài tư vấn 24/7: 1900.6162 hoặc email tư vấn miễn phí luật dân sự để nhận được sự hỗ trợ và tư vấn từ Luật Minh Khuê. Trân trọng!