Luật cạnh tranh ra đời nhằm đáp ứng những mục tiêu như sau:

 

1. Duy trì tính cạnh tranh trên thị trường

Xét theo nghĩa rộng, Luật Cạnh tranh ra đời là để bảo vệ quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Các quy phạm của luật cạnh tranh có mục tiêu tìm cách phát huy cạnh tranh hiệu quả và không bị bóp méo trên thị trường. Điều này không có nghĩa là trong một nền kinh tế thị trường, tất cả các ngành kinh tế đều bị thả cho cạnh tranh tự do, không kiểm soát. Các nước, tùy theo trình độ phát triển có thể mở cửa cho cạnh tranh ở các phạm vi khác nhau.

  • Ở các nước phát triển, các lĩnh vực như dịch vụ y tế hoặc cung cấp các tiện ích cơ bản như giao thông công cộng, điện, gas, nước,.. phải chịu sự kiểm soát của Chính phủ.
  • Ở các nước đang phát triển, phạm vi các lĩnh vực chịu sự can thiệp của Chính phủ thường lớn hơn, ví dụ như hàng không, khai thác khoáng sản,…
  • Ngoài ra, các nước có thể có quan điểm khác nhau về phạm vi tác động của các yếu tố xã hội đối với thị trường tự do. Ví dụ, ở Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, ngành nông nghiệp được bảo hộ thông qua các biện pháp trợ cấp, trợ giá và quyền mua can thiệp để điều tiết thị trường và như vậy ở các nước này, thị trường nông nghiệp là một thị trường tương phản với những gì mà một thị trường cạnh tranh yêu cầu.

 

2. Tăng cường hiệu quả của nền kinh tế

2.1 Duy trì cạnh tranh hiệu quả

Nhiều nhà kinh tế cho rằng mục tiêu chính của luật cạnh tranh là thúc đẩy và duy trì một quá trình cạnh tranh hiệu quả, từ đó đạt được cách thức phẩn bổ hiệu quả hơn các nguồn lực. Các nhà kinh tế đi theo cách tiếp cận này thuộc trường phái kinh tế học công nghiệp và đặc biệt là kinh tế học phúc lợi. Các nhà kinh tế này tìm cách chứng minh tại sao cạnh tranh lại được cho là làm ra lợi ích lớn nhất cho xã hội và để đạt được hiệu quả. Để có thể hiểu những vấn đề này tốt hơn trước tiên chúng ta cùng nhau nghiên cứu qua một số khái niệm cơ bản của kinh tế học vi mô.

 

2.2 Các thuật ngữ kinh tế cơ bản

 - Đường cong của cầu và thặng dư của người tiêu dùng

Người tiêu dùng không đồng nhất về văn hóa tiêu dùng. Họ có những ưu tiên khác nhau, có thu nhập khác nhau và kết quả là sẽ sẵn sàng trả những mức giá khác nhau cho một hàng hóa cụ thể. Mức giá tối đa mà một người tiêu dùng sẵn sàng trả cho một hàng hóa là mức giá đặc cược của anh ta. Khi người tiêu dùng mua số lượng hàng hóa càng lớn thì anh ta sẽ phải trả càng ít cho các đơn vị sản phẩm mua thêm. Về lý thuyết, các nhà cung cấp có thể ép mỗi người tiêu dùng chấp nhận một mức giá khác nhau nhưng trên thực tế, điều này thường không khả thi. Do đó, nhà cung cấp phải xem xét mối quan hệ giữa sự sẵn sàng trả giá của người tiêu dùng và số lượng hàng hóa sẽ được mua trên thị trường một cách tổng thể. Nếu chỉ có những người mua sẵn sàng trả giá cao được cung cấp, số lượng hàng hoá được sản xuất sẽ ít hơn trong trường hợp nếu người mua là người trả giá thấp hơn được cung cấp. Trái lại, để bán được số lượng hàng hóa lớn hơn thì mức giá bán cần phải giảm để phù hợp với người mua chỉ sẵn sàng trả giá thấp. Mối quan hệ giữa giá bán và lượng cung được thể hiện bởi đường cong của cầu thị trường.

- Độ co dãn của cầu

Số lượng tại đó một lượng hàng hoá được yêu cầu sẽ tăng khi giá giảm (và ngược lại) sẽ phụ thuộc vào thị trường đang nghiên cứu và độ co giãn của cầu đối với sản phẩm. Độ co giãn giá của cầu đo tính nhạy cảm của số lượng hàng hoá được yêu cầu căn cứ vào giá. Cầu sẽ được cho là không co giãn nếu một lượng tăng về giá dẫn đến việc giảm không đáng kể về cầu. Ví dụ, cầu đối với dầu mỏ là không co giãn vì trong nhiều lĩnh vực sử dụng dầu mỏ không có sản phẩm thay thế để có thể thực hiện chức năng tương tự. Trái lại, cầu là co giãn nếu một sự tăng giá dẫn đến giảm đáng kể về cầu.

- Độ co giãn chéo của cầu

Độ co giãn của cầu đo mối quan hệ giữa giá của sản phẩm và cầu đối với sản phẩm đấy còn độ co giãn giá chéo của cầu lại đo nhu cầu đối với một sản phẩm (A) tăng bao nhiêu khi giá của một sản phẩm khác (B) tăng lên. Nó được đo bằng sự thay đổi phần trăm về số lượng được yêu cầu đối với sản phẩm A chia cho sự tăng lên về phần trăm trong giá của B. Độ co giãn chéo của cầu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định thị trường sản phẩm liên quan. Độ co giãn giá chéo là dương nếu tăng giá ở sản phẩm B dẫn đến sự tăng về cầu đối với sản phẩm A và điều này cho thấy rằng A và B là các sản phẩm thay thế được cho nhau.

- Tối đa hoá lợi nhuận

Kinh tế học phúc lợi giả định rằng các công ty sẽ hành xử một cách hợp lý và theo cách nào đó để có thể tối đa hoá lợi nhuận còn trên thực tế các công ty có luôn luôn hành xử như vậy không thì phải xem xét thêm. Cụ thể là, với một công ty có vị trí độc quyền, ban giám đốc có thể thích một “cuộc sống yên ổn” để tối đa hoá lợi nhuận. Nhưng với các hoàn cảnh khác thì chưa chắc đã thế. Chỉ có điều chắc chắn là một công ty sẽ không để bị thua lỗ trong dài hạn vì nếu thế nó chắc chắn sẽ bị phá sản. Còn nếu một công ty không đem lại lãi cho các cổ đông của nó sẽ hấp dẫn đối với một kẻ chuyên mua lại và sẽ dễ dàng trở thành nạn nhân trong một phi vụ mua lại công ty.

- Tính kinh tế nhờ quy mô

Tính kinh tế nhờ quy mô xảy ra khi chi phí sản xuất bình quân một hàng hoá giảm xuống nếu hàng hoá đó được sản xuất với số lượng lớn. Nếu một nhà máy chỉ sản xuất một sản phẩm khi đó sản phẩm đó phải gánh chịu toàn bộ chi phí xây dựng và vận hành nhà máy.

 

2.3 Hiệu quả động lực

Toàn bộ phân tích ở trên về hiệu quả và không hiệu quả trong sản xuất và phân bổ là không toàn diện. Người ta đã khẳng định rằng ở điểm cân bằng tĩnh nơi mà công nghệ là cố định và các chi phí có liên quan đến một mức độ nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều thị trường là động, phát triển liên tục với việc ra đời sản phẩm và công nghệ mới. Một đánh giá chính xác hơn về phúc lợi của người tiêu dùng sẽ có được nếu tác động của những đổi mới đó được tính đến. Điều này liên quan đến việc chấp nhận quan điểm trong ngắn hạn về sức mạnh thị trường đáng kể có thể phát sinh nhưng không phải lúc nào sức mạnh thị trường cũng có hại cho phúc lợi người tiêu dùng.

 

3. Các mục tiêu khác của pháp luật cạnh tranh

Theo phân tích ở trên thì mục tiêu chủ yếu của pháp luật cạnh tranh là nhằm đạt được hiệu quả phân bổ và tối đa hóa phúc lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, điều này mới chỉ là sự bắt đầu vì vẫn còn những vấn đề khác. Một câu hỏi lớn được đặt ra là liệu có nên xác định việc theo đuổi tính hiệu quả về kinh tế là mục tiêu duy nhất của Luật Cạnh tranh hay không. Một khi điều này được giải quyết, nó sẽ tác động đến nội dung của Luật Cạnh tranh và cách thức thực thi luật trên thực tế. Nhưng trước hết, chúng ta cùng nhìn nhận pháp luật cạnh tranh có thể theo đuổi những mục tiêu khác sau đây:

 

3.1 Bảo vệ tự do kinh tế

Việc sử dụng các quy phạm cạnh tranh để bảo vệ thị trường mang tính cạnh tranh có thể đạt được hiệu quả về kinh tế nhưng cũng có thể hậu thuẫn cho sự tự do kinh tế. Thị trường mang tính cạnh tranh sẽ loại trừ việc tạo ra sức mạnh thị trường một cách thái quá. Như chúng ta biết, luật chống độc quyền, được xây dựng bởi không phải là những chuyên gia trong lĩnh vực luật thương mại (dù họ đã trở thành những chuyên gia đầu tiên) cũng không phải là những nhà kinh tế (dù họ đã cung cấp những nền tảng cơ bản) . Các công ty, doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh của họ và được thực hiện quyền đó nhưng họ không bao giờ được trở thành người ép buộc người khác. Quyền lực kinh tế của một công ty không được vượt quá thẩm quyền nó được giao trong phạm vi công ty. Vượt quá những hạn chế này, quyền lực kinh tế của một công ty được nhìn nhận là sự lạm dụng và phải được hạn chế, từ đó không ai có thể ra quyết định ảnh hưởng đến người khác mà không cho họ biết trước điều đó. Các phân tích trên lý giải cho sự can thiệp của nhà nước vào hành vi cạnh tranh trên thị trường. Một trong những lập luận nền tảng ủng hộ cấu trúc thị trường cạnh tranh, nơi mà từng người bán và người mua là không đáng kể trong mối tương quan với quy mô của thị trường, là việc nó phi tập trung hóa và hạn chế quyền lực thị trường và từ đó bảo vệ tự do kinh tế.

 

3.2 Bảo vệ đối thủ cạnh tranh và cạnh tranh bình đẳng

Việc bảo vệ tự do kinh tế hậu thuẫn cho thị trường cạnh tranh và có thể trong nhiều thị trường tạo ra hiệu quả kinh tế. Pháp luật cạnh tranh có mục tiêu hạn chế quyền lực thị trường, từ đó ủng hộ các doanh nghiệp nhỏ và tìm cách bảo vệ họ trước những doanh nghiệp lớn. Thay vì bảo vệ cạnh tranh, xu hướng có thể là sử dụng các quy tắc cạnh tranh để bảo vệ đối thủ. Ví dụ như pháp luật cạnh tranh có thể được sử dụng để bảo vệ các công ty nhỏ trước hành vi đặt giá thấp của các công ty thống lĩnh, hoặc buộc một công ty thống lĩnh phải cho phép công ty nhỏ tiếp cận các nguồn lực mà công ty lớn này kiểm soát để công ty nhỏ có thể cạnh tranh trên thị trường. Một chính sách như vậy có thể phù hợp với quan điểm phổ biến là không tin tưởng vào các công ty lớn. Nó là cái được mô tả bởi một số trường phái như là những người đại chúng, như chúng ta sẽ xem dưới đây, và có thể được nhìn nhận như là cạnh tranh “công bằng” hơn là cạnh tranh “tự do”. Tuy nhiên, nó sẽ làm cho một chính phủ phải nuôi dưỡng các công ty nhỏ và để thúc đẩy một xã hội trong đó công dân được khuyến khích thành lập doanh nghiệp và tự làm chủ doanh nghiệp của mình và hành xử với tư cách là doanh nhân. Việc hạn chế quyền lực thị trường cũng ngăn cản việc phân bổ lại của cải từ người tiêu dùng nộp cho các công ty có quyền lực thị trường (một cách cá lẻ hay tập thể) và đảm bảo rằng người tiêu dùng có vô số lựa chọn. Các vấn đề xã hội, chính trị Pháp luật cạnh tranh cũng có thể được sử dụng để phục vụ các chính sách khác như chính sách về xã hội, về tạo việc làm, về công nghiệp, về môi trường và/hoặc về khu vực (ví dụ, bằng việc cấm sáp nhập mà có thể gây ra việc sa thải hàng loạt hoặc cho phép các thỏa thuận hạn chế mà sẽ giúp bảo vệ các ngành công nghiệp đang thua lỗ).

Luật Minh Khuê (tổng hợp)