1. Mức trợ cấp gạo cơ bản

Căn cứ khoản 2 Điều 21 Nghị định 58/2024/NĐ-CP quy định về mức trợ cấp gạo để bảo vệ và phát triển rừng, cụ thể như sau:

Mức trợ cấp: Được quy định là 15 kg gạo mỗi khẩu mỗi tháng trong khoảng thời gian mà đối tượng chưa thể tự túc được lương thực. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định đối tượng được nhận trợ cấp, mức trợ cấp, hình thức trợ cấp cụ thể, căn cứ vào diện tích rừng, số khẩu và thực tế địa phương, với thời gian trợ cấp tối đa là 7 năm. Các nguyên tắc trợ cấp phải được tuân thủ như sau:

  • Đối với hộ gia đình thực hiện việc trồng rừng thay thế nương rẫy, mức trợ cấp gạo trong năm sẽ căn cứ vào diện tích thực tế trồng rừng và thời gian chưa tự túc được lương thực, với thời gian trợ cấp không quá 6 tháng, và tổng lượng gạo trợ cấp không vượt quá 450 kg mỗi năm.
  • Đối với hộ gia đình thực hiện việc bảo vệ và phát triển rừng, mức trợ cấp gạo trong năm sẽ căn cứ vào diện tích thực tế được bảo vệ và phát triển, với thời gian chưa tự túc được lương thực không quá 4 tháng, và tổng lượng gạo trợ cấp không vượt quá 300 kg mỗi năm.
  • Trong trường hợp hộ gia đình thực hiện đồng thời cả việc trồng rừng thay thế nương rẫy và bảo vệ, phát triển rừng, họ sẽ được hưởng mức trợ cấp cao hơn trong hai hoạt động đó.
  • Cách tính mức trợ cấp gạo cụ thể được quy định chi tiết theo Mẫu số 08 Phụ lục kèm theo Nghị định 58/2024/NĐ-CP.

Như vậy, từ ngày 15 tháng 7 năm 2024, mức trợ cấp gạo để bảo vệ và phát triển rừng sẽ là 15 kg gạo mỗi khẩu mỗi tháng trong thời gian đối tượng chưa tự túc được lương thực. Để được hưởng trợ cấp này, đối tượng phải đáp ứng các tiêu chí về diện tích rừng, số khẩu và thực tế của địa phương. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định đối tượng được trợ cấp, mức trợ cấp, và hình thức trợ cấp cụ thể, với thời gian trợ cấp tối đa là 7 năm, và phải tuân thủ các nguyên tắc đã nêu.

 

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp gạo

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp gạo theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định 58/2024/NĐ-CP bao gồm:

Diện tích rừng trồng hoặc bảo vệ: Diện tích rừng mà hộ gia đình thực hiện trồng rừng thay thế nương rẫy hoặc bảo vệ và phát triển rừng là một yếu tố quan trọng quyết định mức trợ cấp. Diện tích lớn hơn sẽ đòi hỏi nhiều nỗ lực và nguồn lực hơn, do đó, mức trợ cấp có thể tăng tương ứng để hỗ trợ hộ gia đình trong việc duy trì và phát triển rừng. Cụ thể, mức trợ cấp cho hộ gia đình thực hiện trồng rừng thay thế nương rẫy trong năm được tính dựa trên diện tích trồng rừng thực tế và thời gian chưa tự túc được lương thực. Tương tự, mức trợ cấp cho hộ gia đình bảo vệ và phát triển rừng cũng dựa trên diện tích thực hiện bảo vệ và phát triển rừng.

Thời gian chưa tự túc được lương thực: Thời gian mà hộ gia đình chưa thể tự túc được lương thực là yếu tố quyết định quan trọng. Trong giai đoạn đầu của quá trình trồng rừng hoặc bảo vệ rừng, các hộ gia đình có thể gặp khó khăn trong việc sản xuất lương thực đủ để tự cung cấp. Vì vậy, thời gian chưa tự túc được lương thực sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức trợ cấp. Quy định cụ thể là thời gian trợ cấp không quá 6 tháng cho việc trồng rừng và không quá 4 tháng cho việc bảo vệ và phát triển rừng, nhằm đảm bảo hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.

Số khẩu trong hộ gia đình:Số lượng thành viên (số khẩu) trong hộ gia đình cũng là yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp gạo. Số khẩu càng nhiều, nhu cầu về lương thực càng lớn, do đó, mức trợ cấp gạo cũng phải được điều chỉnh tương ứng để đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho tất cả các thành viên trong gia đình. Quy định cụ thể mức trợ cấp là 15 kg gạo/khẩu/tháng nhằm đảm bảo đủ lương thực cho từng thành viên trong gia đình trong khoảng thời gian hỗ trợ.

Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định đối tượng được trợ cấp, mức trợ cấp và hình thức trợ cấp cụ thể. Điều này cho phép linh hoạt trong việc áp dụng các quy định phù hợp với thực tế của từng địa phương. Các yếu tố địa phương như điều kiện kinh tế, điều kiện địa lý, và nhu cầu cụ thể của các hộ gia đình đều sẽ được xem xét khi quyết định mức trợ cấp. Quyết định này cần đảm bảo các nguyên tắc đã được quy định trong Nghị định, đồng thời phù hợp với thực tế và nhu cầu của từng địa phương.

Nguyên tắc trợ cấp: Nguyên tắc trợ cấp được quy định nhằm đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả của chính sách. Ví dụ, hộ gia đình thực hiện cả trồng rừng và bảo vệ rừng sẽ được hưởng mức trợ cấp cao hơn. Nguyên tắc trợ cấp cũng quy định rõ cách tính mức trợ cấp gạo cụ thể theo Mẫu số 08 Phụ lục kèm theo Nghị định 58/2024/NĐ-CP, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc phân bổ nguồn trợ cấp.

Như vậy, mức trợ cấp gạo để bảo vệ và phát triển rừng được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau, từ diện tích rừng, thời gian chưa tự túc được lương thực, số khẩu trong hộ gia đình, đến quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các nguyên tắc trợ cấp đã được quy định. Tất cả các yếu tố này kết hợp lại nhằm đảm bảo hỗ trợ hiệu quả cho các hộ gia đình tham gia vào hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của tài nguyên rừng.

 

3. Cách tính mức trợ cấp gạo cụ thể

Căn cứ quy định tại Mẫu số 08 Phụ lục được ban hành kèm theo Nghị định 58/2024/NĐ-CP quy định cách tính mức trợ cấp gạo bảo vệ và phát triển rừng được tính như sau:

- Đầu tiên là trợ cấp gạo cho hộ gia đình thực hiện trồng rừng thay thế nương rẫy
Tổng số gạo trợ cấp= Số tháng trợ cấp  x 15kg x số khẩu được trợ cấp x hệ số diện tích trồng rừng

 Trong đó thì 

 + Số tháng trợ cấp không quá 6 tháng;

+ Số khẩu được trợ cấp là số khẩu trong hộ gia đình thực hiện trồng rừng thay thế nương rẫy;

+ Hệ số diện tích trồng rừng được lấy theo Mục 2 Mẫu 08.

- Tiếp theo là đối với trợ cấp gạo cho hộ gia đình thực hiện bảo vệ và phát triển rừng không thuộc các trường hợp nêu trên:

Tổng số gạo trợ cấp = số tháng trợ cấp x 15 kg x số khẩu được trợ cấp x hệ số diện tích bảo vệ và phát triển rừng

Trong đó thì ta có:

+ Số tháng trợ cấp không quá 04 tháng

+ Số khẩu được trợ cấp là số khẩu trong hộ gia đình thực hiện bảo vệ và phát triển rừng

+ Hệ số diện tích bảo vệ và phát triển rừng sẽ được lấy theo mục 2 mẫu số 08 phụ lục được ban hành kèm theo Nghị định 58/2024/NĐ-CP.

 

4. Ví dụ minh họa

Ví dụ: 

Xác định số gạo trợ cấp theo diện tích rừng trồng và thời gian chưa tự túc được lương thực:

  • Theo quy định, hộ gia đình trồng rừng thay thế nương rẫy sẽ được trợ cấp gạo trong khoảng thời gian chưa tự túc được lương thực, tối đa là 6 tháng mỗi năm.
  • Mức trợ cấp được xác định là 15 kg gạo/khẩu/tháng. Tuy nhiên, mức trợ cấp này còn phụ thuộc vào hệ số diện tích thực tế trồng rừng. Trong trường hợp này, diện tích trồng rừng của hộ gia đình A là 0,6 ha.
  • Hệ số diện tích thực tế (0,6 ha) so với diện tích chuẩn (1 ha) là 0,6/1 = 0,6. Tuy nhiên, để tính toán cho trợ cấp, chúng ta sử dụng hệ số khuyến khích bảo vệ rừng là 0,8

- Xác định số gạo trợ cấp: 6 tháng x 15 kg x 5 khẩu x 0,8 = 360 kg/năm.

Sau khi tính toán theo công thức tính thì, tổng số gạo trợ cấp mà hộ gia đình A nhận được trong một năm là 360 kg.

Như vậy, hộ gia đình A với 5 khẩu và diện tích trồng rừng thay thế nương rẫy là 0,6 ha sẽ nhận được tổng cộng 360 kg gạo trợ cấp trong một năm. Quy trình tính toán này dựa trên các thông số về thời gian chưa tự túc được lương thực, số khẩu, diện tích thực tế trồng rừng và hệ số diện tích áp dụng. Điều này giúp đảm bảo rằng hộ gia đình A nhận được sự hỗ trợ cần thiết để duy trì và phát triển hoạt động trồng rừng, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực trong khoảng thời gian họ chưa thể tự cung cấp đầy đủ lương thực cho gia đình.

 

Nếu như các bạ còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ

Tham khảo thêm: Hệ số bậc lương của người thực hiện công tác thực địa điều tra rừng