1. Các trường hợp ngoại lệ khi chuyển nhượng nhà ở xã hội
Trường hợp chuyển nhượng khi chưa đủ 05 năm:
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 62 Luật Nhà ở 2014, khoản 5 Điều 19 Nghị định 100/2015/NĐ-CP, trong trường hợp chưa đến thời hạn 05 năm nhưng bên mua, thuê mua có nhu cầu chuyển nhượng nhà ở phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Bên mua, bên thuê mua đã thanh toán hết tiền mua, thuê mua nhà ở;
- Chỉ được bán lại cho một trong các đối tượng sau:
+ Đơn vị quản lý nhà ở xã hội đó: bán lại cho Nhà nước (trong trường hợp thuê mua nhà ở xã hội do Nhà nước đầu tư) hoặc bán lại cho chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội (trong trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngoài ngân sách);
+ Đối tượng được mua, thuê mua nhà ở xã hội theo quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở 2014, với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Theo quy định tại khoản 12 Điều 1 Nghị định 49/2021/NĐ-CP quy định việc bán lại nhà ở xã hội cho chủ đầu tư dự án hoặc cho đối tượng khác thuộc diện được mua, thuê mua nhà ở xã hội thực hiện theo quy định tại Điều 62 Luật Nhà ở 2014 và các quy định sau:
- Trường hợp bán lại nhà ở xã hội cho chủ đầu tư dự án thì người bán lại phải thực hiện thủ tục thanh lý hợp đồng với chủ đầu tư. Giá bán lại tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
- Trường hợp bán lại nhà ở xã hội cho đối tượng khác thuộc diện được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì người bán lại phải thực hiện thủ tục chuyển hợp đồng mua bán nhà ở xã hội với chủ đầu tư cho người mua lại thuộc diện được mua nhà ở xã hội và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
- Người mua lại nhà ở xã hội phải có các giấy tờ xác nhận về đối tượng và điều kiện theo quy định tại Điều 22 Nghị định 49/2021/NĐ-CP và liên hệ trực tiếp với chủ đầu tư dự án để nộp hồ sơ đề nghị mua nhà theo quy định tại Điều 20 Nghị định 49/2021/NĐ-CP.
Trường hợp dự án nhà ở xã hội chỉ để cho thuê
Theo khoản 6 Nghị định 100/2015/NĐ-CP, đối với dự án nhà ở xã hội chỉ để cho thuê thì chủ đầu tư chỉ được bán sau thời gian tối thiểu là 10 năm kể từ khi hoàn thành bàn giao để cho thuê và chỉ được bán cho các đối tượng quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở 2014, với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm.
Trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội riêng lẻ do hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng
Căn cứ khoản 6 Nghị định 100/2015/NĐ-CP, trường hợp mua, thuê mua nhà ở xã hội riêng lẻ do hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng thì việc chuyển quyền sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai.
2. Mức xử phạt đối với việc rao bán nhà ở xã hội sai đối tượng?
Các mức xử phạt đối với việc rao bán nhà ở xã hội khi chưa đủ điều kiện được quy định tại Điều 64 của Nghị định 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng, mức xử phạt vi phạm quy định về quản lý giao dịch nhà ở với từng hành vi như sau:
- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 64 Nghị định 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng đối với hành vi bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội không đúng đối tượng hoặc không đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật;
- Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với một trong các hành vi được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 64 Nghị định 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng đối với hành vi bên thuê, thuê mua hoặc mua nhà ở xã hội bán, cho thuê lại, cho mượn nhà trong thời gian thuê, thuê mua hoặc bán lại nhà không đúng quy định.
Hình phạt bổ sung: theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 64 Nghị định 16/2022/NĐ-CP buộc thu hồi nhà ở xã hội và buộc hoàn trả bên mua, bên thuê mua số tiền mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội được xem là hình thức khắc phục hậu quả.
Mức phạt tiền nêu trên là mức phạt áp dụng đối với tổ chức, đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính về quản lý giao dịch nhà ở thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức theo khoản 3 Điều 4 Điều 64 Nghị định 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng.
3. Rao bán nhà ở xã hội sai đối tượng có bị thu hồi không?
Nhìn chung, theo quy định của pháp luật, ngoài hình thức xử phạt được coi là hình thức xử phạt chính, khi có hành vi vi phạm còn phải áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như triệu hồi người vi phạm và buộc thi hành án, khắc phục hậu quả hoặc khôi phục lại hành vi vi phạm, trạng thái ban đầu. Còn việc bán nhà ở xã hội không đúng đối tượng là vi phạm Luật Nhà ở 2014. Bởi chủ đầu tư chỉ được phép bán nhà ở xã hội cho một số nhóm nhất định như người nghèo, người được xác định là hộ nghèo, cận nghèo, người có công cách mạng… Đây là những hộ nghèo, cận nghèo. những vấn đề cần được hỗ trợ và khuyến khích. Vì vậy, nếu chủ sở hữu hoặc chủ đầu tư nhà ở xã hội sử dụng nhà ở xã hội vào mục đích trái pháp luật thì nhà nước sẽ hủy bỏ hành vi này, đây được coi là vi phạm các nguyên tắc chung do nhà nước quy định
Đối với những người sử dụng nhà ở xã hội cho nhu cầu cá nhân để thuê dài hạn, thậm chí thuê chung cư thì đây đều là những hành vi vi phạm pháp luật. Trong trường hợp này, có thể xảy ra những mất mát, thiệt hại thực tế từ các giao dịch nhà ở xã hội. Do tính chất ưu đãi của nhà nước nên người mua nhà ở xã hội bị hạn chế quyền bán, chuyển nhượng nhà ở xã hội. Người mua căn hộ chỉ được bán, chuyển nhượng căn hộ xã hội cho người khác sau 5 năm kể từ ngày thanh toán đầy đủ tiền mua căn hộ và đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước.
Người mua nhà muốn bán nhà trong thời hạn 5 năm kể từ ngày thanh toán chỉ được bán cho chủ đầu tư dự án và không được giao dịch mua bán với bên khác. Đó là luật nhưng trên thực tế vẫn có nhiều người thực hiện các giao dịch mua bán chuyển nhượng nhà ở xã hội dưới hình thức giấy tờ mua bán trái phiếu, sử dụng giấy ủy quyền...
Đối với những hành vi vi phạm Luật Nhà ở 2014, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét các hành vi vi phạm mua bán nhà ở xã hội không đúng địa chỉ và xử lý nghiêm minh. Ngoài các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng nêu trên, những hành vi vi phạm không đúng nguyên nhân khi mua bán nhà ở xã hội cũng buộc phải từ bỏ nhà ở xã hội do mục tiêu cuộc sống không thể đạt được bằng đất đai. và phải được trả lại cho bên mua, bên thuê theo quy định của pháp luật. Xem thêm: Thời hạn sở hữu nhà ở xã hội là bao lâu? Có được mua bán nhà ở xã hội?
Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật nhà ở trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!