1. Mức phạt đối với việc mua bán xe máy chậm sang tên ?

Thưa luật sư, Em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em có hộ khẩu ở Bình Dương, em mua xe máy của bạn ở Nghệ An, xe máy đó đăng ký giấy tờ cà vẹc ở Nghệ An. Em ( Bên mua ) và bạn ( bên bán ) đã làm hợp đồng mua bán và đi công chứng xong.
Sau đó gửi hợp đồng mua bán bản chính có công chứng + CMND bản chính của bên mua và bên bán + cà vẹc xe bản chính + sổ hộ khẩu của người mua và người bán + biển số xe về Nghệ An để bố của bạn em ra cơ quan CSGT Nghệ An rút hồ sơ gốc ( xe đứng tên bạn em ) sau khi bố bạn em nộp các giấy tờ thì CSGT Nghệ An hẹn 1 tuần sau quay lại thì mới rút hồ sơ được. Em nghe nói hợp đồng mua bán chỉ có hiệu lực trong 1 tuần. Vậy Luật sư cho em hỏi trong trường hợp của em thì sau khi CSGT trả hồ sơ gốc thì hợp đồng mua bán của em đã quá 1 tuần thì khi em đi làm lại giấy tờ xe thì em có bị phạt gì không và mức phạt là bao nhiêu ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người thư: Chung Nguyễn

>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về trách nhiệm của bạn đi đăng sang tên khi mua xe máy

Căn cứ khoản 3 Điều 6 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe:

"3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe."

Như vậy trong thời hạn 30 kể từ ngày bạn và bên bán tiến hành thủ tục công chứng tại văn phòng công chưng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực thì bạn phải tiến hành thủ tục sang tên. di chuyển xe tại phòng cảnh sát giao thông nơi bạn đang đăng ký hộ khẩu thường trú. Do đó sau một tuần kể từ ngày bạn và bên bán tiến hành làm xong thủ tục mua bán nếu bạn tới phòng cảnh sát giao thông nơi bạn đang đăng ký hộ khẩu thường trú thì sẽ sẽ không bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, về mức xử phạt khi mua bán xe không tiến hành thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật

Căn cứ Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, việc không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế thì bị phạt như sau:

- Tài sản là xe mô tô, xe gắn máy sẽ bị phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 đồng - 1,2 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe;

- Tài sản là xe ô tô sẽ bị phạt tiền từ 02 - 04 triệu đồng đối với cá nhân, từ 04 - 08 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự

>> Xem thêm:  Phí chứng thực hợp đồng mua bán xe máy cũ hiện nay là bao nhiêu tiền ?

2. Tư vấn về việc làm lại giấy tờ xe khi mua xe máy cũ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em có mua 1 chiếc xe gắn máy đã qua nhiều đời chủ. Cà vẹt xe đã được cấp lại lần 2 vào năm 2000. Nhưng số khung và số máy có sự sai lệch do Công An lúc làm lại cà vẹt, cụ thể như sau: Số máy NZ00-XXX Cà vẹt : ZN00-XXX.
Vậy em phải làm như thế nào trong trường hợp bị Công An kiểm tra giấy tờ xe ? Và thủ tục làm lại như thế nào ? Khi em mua lại chiếc xe này em cần làm những loại giấy tờ gì ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: V.H

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc giấy chứng nhận đăng ký xe sai số khung xe và trường hợp bị Công An kiểm tra giấy tờ xe.

Căn cứ Điều 14 Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe thì trường hợp của bạn không thuộc một trong các trường hợp phải đổi lại giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp của bạn, có thể hồ sơ xe đã đăng ký đúng nhưng do sơ xuất thiếu hoặc nhầm một số ký tự của số khung số máy của xe căn cứ theo khoản 11 Điều 23 Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe:

“ Hồ sơ xe đã đăng ký đúng quy định nhưng do sơ xuất, thiếu chữ ký của lãnh đạo phòng, đội, cán bộ đăng ký xe hoặc chưa đóng dấu trên giấy khai đăng ký xe hoặc giấy khai sang tên, di chuyển xe hoặc giấy chứng nhận đăng ký xe, chứng từ nhập khẩu có sai sót về địa chỉ, thiếu hoặc nhầm một số ký tự của số máy, số khung so với thực tế của xe hoặc …thì đề xuất Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt (xe đăng ký ở Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt) hoặc Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an cấp huyện (xe đăng ký ở địa phương) cho tiếp nhận giải quyết đăng ký.”

Trường hợp này, bạn cần đến nơi đăng ký xe trước đó để trình bày và yêu cầu họ giải quyết.

Nếu bạn không yêu cầu giải quyết vấn đề trên mà tiếp tục sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe này thì có thể gây trở ngại cho bạn khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Trường hợp bị kiểm tra, bạn có thể bị xử phạt hành chính đối với hành vi “Tự ý đục lại số khung, số máy; tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe; tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe ” được quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt như sau:

5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy; đưa phương tiện đã bị cắt, hàn, đục lại số khung, số máy trái quy định tham gia giao thông;

Thứ hai, về việc mua lại xe, bạn cần đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên xe.

Khoản 3 điều 6 thông tư số thông tư 15/2014/TT-BCA về đăng ký xe quy định “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.”

Vì trong phần trình bày của bạn chưa nêu rõ việc bạn mua xe của người khác có thuộc phạm vi cùng 1 tỉnh hay không? nên để tư vấn cho bạn, chúng tôi chia thành các trường hợp:

Đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh

Theo quy định tại Điều 11 mục B thông tư 15/2014/TT-BCA vể việc đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh:

“1.Tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải xuất trình giấy tờ quy định tại Điều 9 Thông tư này và nộp hồ sơ gồm:

a) Giấy khai đăng ký xe (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này).

b) Giấy chứng nhận đăng ký xe.

c) Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư này.

d) Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này.

2. Đăng ký sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số, 4 số hoặc khác hệ biển thì nộp lại biển số để đổi sang biển 5 số theo quy định) và cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ xe mới.”

Theo như quy định trên, khi đi đăng ký sang tên xe trong địa phận cùng tỉnh, bạn cần chuẩn bị 1 bộ hồ sơ trong đó có:

- Chứng minh nhân dân của bạn

- Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BCA)

- Giấy chứng nhận đăng ký xe

- Giấy chứng nhận chuyển quyền sở hữu xe (giấy thỏa thuận bán xe của bạn và chủ cũ của xe)

- Biên lai giấy nộp tiền lệ phí trước bạ cho xe.

Hồ sơ trên bạn gửi đến Công an cấp huyện nơi bạn cư trú, nếu hồ sơ của bạn đầy đủ và hợp lệ thì 02 ngày sau bạn có thể nhận được giấy đăng ký xe mang tên bạn.

Đăng ký xe khi xe đi sang tỉnh khác:

Theo quy định tại Điều 12 Thông tư 15/2014/TT-BCA về sang tên xe đi tỉnh khác:

“ 1. Tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe đến cơ quan đăng ký xe ghi trong giấy chứng nhận đăng ký xe để làm thủ tục, không phải đưa xe đến kiểm tra nhưng phải xuất trình giấy tờ quy định tại Điều 9 Thông tư này và nộp hồ sơ gồm:

a) Hai giấy khai sang tên, di chuyển xe (mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này).

b) Giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe.

c) Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư này.”

Trong trường hợp này, nếu như bạn mua xe tại tỉnh này, muốn đăng ký xe tại tỉnh này nhưng lại có ý định di chuyển sang tỉnh khác thì bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ trong đó có:

- 2 giấy khai sang tên xe

- Giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe

- Giấy/ hợp đồng mua xe của bạn.

Đăng ký xe từ tỉnh khác chuyển đến

Theo quy định tại Điều 13 Thông tư 15/2014/TT-BCA về việc đăng ký xe từ tỉnh khác chuyển đến:

“ 1.Chủ xe phải xuất trình giấy tờ quy định tại Điều 9 Thông tư này và nộp hồ sơ gồm:

a) Giấy khai đăng ký xe (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này).

b) Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này.

c) Giấy khai sang tên, di chuyển xe (mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này) và phiếu sang tên di chuyển kèm theo chứng từ chuyển quyền sở hữu xe quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư này.

d) Hồ sơ gốc của xe theo quy định.”

Theo quy định này, bạn cần phải chuẩn bị hồ sơ trong đó có:

- Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu)

- Chứng từ lệ phí trước bạ (biên lai nộp tiền lệ phí trước bạ)

- Giấy khai sang tên xe (theo mẫu) và giấy/hợp đồng mua xe của bạn.

- Hồ sơ gốc của xe: Giấy đăng ký xe và biển số xe.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

>> Xem thêm:  Đăng ký xe máy muộn có bị phạt không ? Thủ tục mua xe cũ

3. Nhờ bạn đứng tên mua xe, bạn mượn không chịu trả xe ?

Thưa luật sư: Ngày 20/4 vừa qua, anh trai tôi mua xe máy LX 125. Tuy nhiên, do anh trai đã đứng tên một xe máy wave nên không thể đăng ký và đứng tên thêm một xe máy nữa. anh tôi đã nhờ anh H - là bạn anh tôi đứng tên trên hợp đồng mua bán và đứng tên trên giấy đăng ký xe hộ. Việc nhờ vả chỉ được thực hiện bằng miệng chứ không có bất cứ giấy tờ nào.

Ngày 1/5, anh tôi đi liên hoan với lớp, điều khiển xe máy vi phạm giao thông nên xe của anh đã bị tạm giữ 7ngày. Đến ngày hẹn lấy xe, anh tôi nhờ anh H đến lấy xe hộ. Sau khi lấy xe về, anh H đã mượn xe và hứa sau 1 ngày sẽ trả. Tuy nhiên, sau khi hết 1 ngày, anh H vẫn chưa trả nên anh tôi đã sang nhà để lấy. Lúc này anh H nhất định không trả và bảo là vì anh ta đứng tên trong giấy đăng ký xe. Trong khi anh trai tôi trả tiền mua xe và vẫn giữ phiếu thu.

Vậy các luật sư cho tôi hỏi việc anh trai tôi nhờ anh H đứng tên hộ có hợp pháp không, anh trai tôi có phải chủ sở hữu chiếc xe máy đó không ?

Anh tôi có thể kiện đòi lại chiếc xe máy đó không và anh tôi có thể áp dụng những phương thức khởi kiện nào để bảo về quyền lợi của mình ?

Xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

1. Việc đứng tên và chủ sở hữu

Việc anh bạn nhờ bạn mình đứng tên trong giấy đăng ký xe không vi phạm pháp luât, nhưng pháp luật sẽ công nhận bạn của anh bạn là chủ sở hữu đối với phương tiện xe đó chứ không phải anh bạn. Cho nên trên phương diện luật pháp anh bạn không phải là chủ sở hữu của chiếc xe đó.

Giấy đăng ký xe là giấy tờ Nhà nước cấp cho chủ sở hữu xe để công nhận quyền sở hữu của người đó đối với chiếc xe. Giấy đăng ký xe là giấy tờ chứng minh quyền tài sản và là căn cứ để chủ sở hữu xe thực hiện các quyền của chủ sở hữu theo Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.

Nếu bạn mua xe và để chứng minh mình là chủ sở hữu của chiếc xe thì bạn phải làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Việc nhờ người khác đứng tên giúp và viết giấy xác nhận nội dung này không phải là căn cứ chứng minh quyền sở hữu của bạn.

2. Bảo vệ quyền lợi

Do đó, để lấy lại được xe, bạn cần có tài liệu chứng minh thỏa thuận giữa 2 bạn, như: giấy thỏa thuận về đứng tên hộ trong giấy tờ xe; băng ghi âm ghi hình có nguồn gốc đươc xác minh hoặc giấy tờ thỏa thuận và người làm chứng. Ngoài ra, xuất trình tất cả các giấy tờ bạn có liên quan đến việc anh bạn mới chính là người mua xe,... Với các giấy tờ này, bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết để lấy lại xe.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Rút hồ sơ gốc khi sang tên xe có mất phí ? Thủ tục sang tên xe máy cũ

4. Mua xe máy rồi đứng tên người khác có đòi được không ?

Mong luật sư giúp tôi tình huống sau: Tháng 10 năm 2004, chị A mua xe máy Honda dream II của Đại lý X. Tuy nhiên, do chị đã đứng tên một xe máy wave & nên chị không thể đăng ký và đứng tên thêm một xe máy nữa. Để lách luật, chị nhờ anh B là anh họ đứng tên trên hợp đồng mua bán và đứng tên trên giấy đăng ký xe hộ.
Vì tin tưởng anh họ nên việc nhờ vả chỉ được thực hiện bằng miệng chứ không có bất cứ giấy tờ nào được viết ra. Tháng 5 năm 2005, chị A điều khiển xe máy vi phạm luật giao thông đường bộ nên xe của chị đã bị tạm giữ 15 ngày theo quy định. Đến ngày hẹn lấy xe, chị A nhờ anh B đến lấy xe hộ vì đăng ký xe mang tên anh B. Sau khi lấy xe về, anh B đã mượn chị A để sử dụng và hứa trả sau 3 ngày. Tuy nhiên, sau khi hết hạn 3 ngày, chị A vẫn không thấy anh B trả xe nên đã sang nhà để lấy. Lúc này anh B nhất định không trả vì cho rằng xe của mình theo giấy đăng ký xe. Hai bên xảy ra tranh chấp.

- Hãy xác định ai là chủ sở hữu của chiếc xe máy?

- Giả sử khi trả tiền mua xe, chị A là người trả và phiếu thu chị vẫn còn giữ và người trả tiền là chị A. Vậy chị A có thể kiện đòi lại chiếc xe máy không? Các phương thức khởi kiện mà chị A có thể áp dụng để bảo vệ quyền sở hữu của mình?

Rất mong nhận được sự tư vấn từ luật sư!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>>Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Sau khi đã nghiên cứu những thông tin mà bạn đã cung cấp, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Thứ nhất: Ai là chủ sở hữu chiếc xe máy?

Giấy đăng ký xe là giấy tờ Nhà nước cấp cho chủ sở hữu xe để công nhận quyền sở hữu của người đó đối với chiếc xe. Giấy đăng ký xe là giấy tờ chứng minh quyền tài sản và là căn cứ để chủ sở hữu xe thực hiện các quyền của chủ sở hữu theo Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.

Nếu chị A mua xe và để chứng minh mình là chủ sở hữu của chiếc xe thì bạn phải làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Việc nhờ người khác đứng tên giúp và viết giấy xác nhận nội dung này không phải là căn cứ chứng minh quyền sở hữu của chị bạn. Như trên đã nói, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản của một người phải do cơ quan có thẩm quyền cấp, không phải là giấy tờ do các cá nhân tự lập với nhưng chị A nên làm thủ tục đăng ký sang tên mình theo quy định của pháp luật để chứng minh mình là chủ sở hữu của chiếc xe. Như vậy, việc chị A để anh B đứng tên chiếc xe xét theo góc độ pháp lý thì chiếc xe này thuộc sở hữu của anh họ chị bạn.

Thứ hai: Có thể khởi kiện khi vẫn giữ phiếu thu hay không?

Như đã trình bày ở trên, chiếc xe này do anh B đứng tên, do đó, chủ sở hữu của chiếc xe ở thời điểm hiện tại là anh B. Nếu chị A muốn lấy lại chiếc xe đó, chị A chỉ có thể đăng ký sang tên cho mình, bởi theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe thì có quy định về việc bỏ quy định một người chỉ được đăng ký một người chỉ được đăng ký một xe moto. Nhưng, hiện tại, anh B không có tin túc gì, nên vấn đề làm thủ tục sang tên rất khó.

Trong trường hợp không làm thủ tục sang tên được, và chị A vẫn giữ phiếu thu, điều này chứng minh cho việc chị bạn là người đã trả tiền mua chiếc xe máy đó, thì thoe quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, chị bạn có thể đòi lại số tiền đó từ anh B - số tiền đó được coi như số tiền chị bạn cho anh B vay để mua chiếc xe đó. Tuy nhiên, phiếu thu không phải là hợp đồng vay, do đó, để đòi lại được số tiền này, chị A phải chứng minh được việc chị A trả tiền phiếu thu này là mua xe để đứng tên anh B. Theo đó, các giấy tờ chị A cần phải có khi ,tiến hành khởi kiện: Phiếu thu, các giấy tờ về đăng ký xe đứng tên anh B và chiếc xe đó,... và tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi anh B cư trú theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục ủy quyền sử dụng xe máy ? Cách đăng ký sang tên xe máy khác tỉnh ?

5. Khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua xe ?

Thưa Luật sư. Năm 2013 em có bán 1 xe cho người mua và có viết giấy đặt cọc nhưng không nêu rõ nội dung thể hiện phạt cọc khi quá hạn 10 ngày không thanh toán tiền mua xe. Sau đó người mua kiện em vì em không trả lại cọc với lý do em không thể hiện việc phạt cọc trên biên lai. Rồi sau đó lại kiện em vì em không đứng tên chủ xe nên kiện em tội lừa đảo (xe chồng em mua có giấy công chứng nhưng chồng em chưa sang tên).
Về việc đặt cọc thì người mua nhờ em trai mình ghi phiếu vì nói hộ khẩu thành phố đứng tên dùm và người em này có xin em 5 triệu tiền cafe giao dịch xe em đồng ý mà đưa tiền mặt, nhưng không thể hiện trên biên lai là thật sự mình chỉ nhận 15 triệu tiền cọc xe. Đến nay bên đó kiện đòi em 20 triệu có 3 lần em lên găp giảng hoà nhưng bên họ khăng khăng đòi 20 triệu, sau đó em chuyển chỗ ở không nhận được giấy báo và hiện tại bên thi hành án nói em thua kiện buộc bên em trả 20 triệu & án phí hơn 1 triệu. Luật sư cho em hỏi em không đồng ý thì em phải làm sao? Các thủ tục khởi kiện và làm đơn xin xét xử lại như thế nào?
Chân thành cám ơn luật sư.

Trả lời:

- Thứ nhất, về hiệu lực của hợp đồng đặt cọc:

Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hình thức giao dịch dân sự (hợp đồng đặt cọc) quy định thoả thuận về đặt cọc là một giao dịch dân sự.

Do đó, việc đặt cọc “chỉ có hiệu lực” khi có đủ các điều kiện về chủ thể ký kết, về nội dung và hình thức hợp đồng và hợp đồng phải được lập thành văn bản: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Theo mục 1 của Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về tranh chấp hợp đồng dân sự có đặt cọc như sau:

"Theo quy định tại Điều 130 Bộ Luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội thì thoả thuận về đặt cọc là một giao dịch dân sự; do đó, việc đặt cọc chỉ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự và phải được lập thành văn bản (có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính).

Trong trường hợp có tranh chấp về đặt cọc mà các bên không có thoả thuận khác về việc xử lý đặt cọc, thì việc xử lý được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 363 Bộ luật Dân sự.

b) Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mới có sự vi phạm làm cho hợp đồng không được thực hiện hoặc mới phát hiện hợp đồng bị vô hiệu thì không phạt cọc. Việc giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo thủ tục chung.

c) Trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định điều kiện nếu đặt cọc bị vô hiệu là hợp đồng cũng bị vô hiệu, thì hợp đồng đương nhiên bị vô hiệu khi đặt cọc đó bị vô hiệu. Việc xử lý đặt cọc bị vô hiệu và hợp đồng bị vô hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Dân sự.

Ví dụ: A và B giao kết hợp đồng mua bán nhà. Khi giao kết hai bên thoả thuận B (bên mua) phải giao cho A (bên bán) một chiếc xe ô tô thể thao để đặt cọc bảo đảm cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán nhà ở với điều kiện khi hợp đồng mua bán nhà ở được giao kết và thực hiện thì chiếc xe ô tô thể thao đó phải được trừ vào tiền mua bán nhà và nếu A không nhận được chiếc xe ô tô đó do việc đặt cọc bị vô hiệu thì hợp đồng cũng bị vô hiệu.

Khi bắt đầu thực hiện hợp đồng thì phát hiện chiếc xe ô tô đó là của ông C (bố B) và ông C không đồng ý cho B lấy chiếc xe ô tô đó trừ vào tiền mua nhà, có nghĩa là việc đặt cọc bị vô hiệu và do đó trong trường hợp này hợp đồng mua bán nhà cũng bị vô hiệu.

d) Trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a và c mục 1 này, nếu cả hai bên cùng có lỗi hoặc trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì không phạt cọc."

Như vậy, việc tòa án buộc bạn phải trả lại 20 triệu là do việc xe bạn không có giấy tờ chứng minh bạn là chủ sở hữu chiếc xe đó, mà chỉ có hợp đồng công chứng việc mua xe mà người mua xe lại là chồng bạn. Do bạn không cung cấp thông tin xe bạn bán là xe gì nhưng thông tin chưa sang tên thì có thể hiểu xe bạn bán là loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu nên khi mới chỉ có hợp đồng mua bán đã được công chứng thì chồng bạn vẫn chưa có quyền hoàn toàn với tài sản này.

Mặt khác, bạn không phải chủ sở hữu chiếc xe mà lại bán xe nên khi bên mua kiện bạn lừa đảo thì giao dịch này sẽ bị tòa án tuyên là vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Theo điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào. Lừa dối, đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba trong quan hệ dân sự vi phạm nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự. Theo điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Theo điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Như vậy, khi hợp đồng đặt cọc đã bị tòa án tuyên vô hiệu thì bạn phải trả lại số tiền đặt cọc của bên mua như ban đầu.

Việc bạn nhận 15 triệu tiền cọc xe kia nếu không có bằng chứng về việc bạn đã đưa cho người em của người mua xe 5 triệu mà trên hợp đồng cọc ghi 20 triệu thì tòa án cũng không thể công nhận sự việc này vì không có căn cứ.

(Giả sử trong trường hợp hợp đồng đặt cọc không bị vô hiệu thì nếu bên mua kiện bạn vì trong hợp đồng không có quy định về phạt cọc khi hợp đồng không được giao kết để lấy lại số tiền đã đặt cọc là không có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015

Điều 328. Đặt cọc
...
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, nếu bên mua có lỗi không thanh toán khi hết hạn 10 ngày ghi trong hợp đồng đặt cọc hoặc không mua nữa thì bên mua phải mất số tiền đặt cọc đó. Còn nếu bên bạn là bên nhận đặt cọc (bên bán) từ chối việc giao kết có nghĩa không bán nữa thì bạn phải trả lại số tiền bên mua đã đặt cọc và trả một khoản tiền tương đương giá trị tài sản cho bên mua.

Và việc bạn phải chịu mức án phí sơ thẩm là 1 triệu vì bên bạn thua kiện. Theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

"2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận."

- Thứ hai, về việc xin kháng cáo:

Khi bạn không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm của tòa án thì theo điều 173 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bạn có quyền kháng cáo:

3. Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định;

Và theo quy định của điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án:

Điều 273. Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.

3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.

Để kháng cáo với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án, bạn nộp đơn kháng cáo theo quy định tại điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

Điều 272. Đơn kháng cáo

1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;

c) Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;

đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

2. Người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều này nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo, của người kháng cáo ủy quyền kháng cáo; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo ủy quyền kháng cáo và văn bản ủy quyền. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Nếu đã hết thời hạn 15 ngày thì bạn vẫn có thể nộp đơn kháng cáo quá hạn:

Điều 275. Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng cáo quá hạn

1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật MinH khuê

>> Xem thêm:  Điều kiện đăng ký biển số xe tại thành phố Hồ Chí Minh ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Trách nhiệm đi đăng sang tên khi mua xe máy

Trả lời:

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe."

Câu hỏi: Xử phạt khi mua bán xe không tiến hành thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật

Trả lời:

Căn cứ Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, việc không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế thì bị phạt như sau:

- Tài sản là xe mô tô, xe gắn máy sẽ bị phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 đồng - 1,2 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe;

- Tài sản là xe ô tô sẽ bị phạt tiền từ 02 - 04 triệu đồng đối với cá nhân, từ 04 - 08 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe.

Câu hỏi: Đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh

Trả lời:

“1.Tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải xuất trình giấy tờ quy định tại Điều 9 Thông tư này và nộp hồ sơ gồm:

a) Giấy khai đăng ký xe (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này).

b) Giấy chứng nhận đăng ký xe.

c) Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư này.

d) Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này.

2. Đăng ký sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số, 4 số hoặc khác hệ biển thì nộp lại biển số để đổi sang biển 5 số theo quy định) và cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ xe mới.”