1. Mức xử phạt quán karaoke lắp chốt cửa bên trong phòng hát năm 2024 là bao nhiêu?
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 54/2019/NĐ-CP, một trong các điều kiện kinh doanh quán karaoke là không được đặt chốt cửa bên trong phòng hát. Điều này nhằm đảm bảo an toàn và giữ được tính công khai, tránh tình trạng gây cản trở sự ra vào của khách hàng trong quán karaoke.
Ngoài ra, căn cứ vào điểm b khoản 6 Điều 15 Nghị định 38/2021/NĐ-CP, được bổ sung bởi khoản 5 Điều 4 Nghị định 129/2021/NĐ-CP, quy định rõ về việc xử phạt các hành vi vi phạm quy định trên. Theo đó, đối với hành vi đặt chốt cửa bên trong phòng hát karaoke, phòng vũ trường, chủ quán sẽ bị áp dụng mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Cụ thể:
- Kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường không bảo đảm diện tích theo quy định;
- Đặt chốt cửa bên trong phòng hát karaoke, phòng vũ trường;
Ngoài mức phạt tiền, Nghị định cũng quy định những biện pháp xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả đối với các chủ quán vi phạm. Theo đó:
- Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường từ 18 tháng đến 24 tháng đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 7 và điểm c khoản 8 Điều này;
- Biện pháp khắc phục hậu quả:
+ Buộc thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp đã được cấp;
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 5, điểm e khoản 6, khoản 7 và khoản 8 Điều này.
+ Buộc nộp lại giấy phép đã bị sửa chữa, tẩy xóa hoặc bổ sung làm thay đổi nội dung cho cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 5 Điều này.
Theo quy định tại Nghị định 38/2021/NĐ-CP, khi một quán karaoke lắp đặt chốt cửa bên trong phòng hát, chủ quán sẽ bị xem như vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh trong ngành karaoke. Mức phạt tiền áp dụng cho cá nhân là từ 15.000.000 đến 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi vi phạm này do một tổ chức thực hiện, mức phạt sẽ tăng lên từ 30 triệu đến 40 triệu đồng.
Việc áp dụng mức phạt tiền cao như vậy nhằm nhấn mạnh việc tuân thủ và giữ gìn an toàn trong hoạt động kinh doanh quán karaoke. Chốt cửa bên trong phòng hát có thể gây nguy hiểm nếu xảy ra sự cố, như hỏa hoạn hoặc tình huống cần sơ tán khẩn cấp. Việc đặt chốt cửa bên trong phòng hát cản trở sự ra vào của khách hàng và làm giảm tính công khai của quán karaoke, không đảm bảo quyền lợi và sự an toàn của khách hàng.
Đồng thời, việc áp dụng mức phạt cao hơn đối với tổ chức cũng nhằm đảm bảo tính trách nhiệm và tinh thần chấp hành đúng quy định của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Quán karaoke là một hình thức kinh doanh giải trí công cộng, nơi có nhiều khách hàng đến tham gia. Do đó, việc tuân thủ quy định đối với an toàn và sự thuận tiện cho khách hàng là vô cùng quan trọng.
Ngoài việc áp dụng mức phạt tiền, Nghị định 38/2021/NĐ-CP còn quy định về việc tước giấy phép kinh doanh dịch vụ karaoke. Điều này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của chủ quán và là một biện pháp trừng phạt hiệu quả để đảm bảo tuân thủ quy định.
Tổng hợp lại, việc lắp đặt chốt cửa bên trong phòng hát trong quán karaoke là vi phạm quy định và sẽ bị xử phạt tiền từ 15.000.000 đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 30 triệu đến 40 triệu đồng đối với tổ chức. Đây là mức phạt cao nhằm đảm bảo an toàn, tính công khai, và sự thuận tiện cho khách hàng trong quán karaoke.
2. Thẩm quyền xử phạt đối với quán karaoke lắp chốt cửa bên trong phòng hát thuộc về ai?
Nghị định số 38/2021/NĐ-CP đã được sửa đổi bằng khoản 24 Điều 4 của Nghị định số 129/2021/NĐ-CP để quy định về việc xử phạt các hành vi vi phạm hành chính theo các điều sau đây:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II và Chương III Nghị định này.
- Công an nhân dân xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II và Chương III, trừ những hành vi quy định tại điểm a khoản 4 Điều 6; điểm c khoản 3, điểm g khoản 4, các điểm b, c và d khoản 5 Điều 17; điểm b khoản 6 Điều 18; khoản 2, điểm b và điểm c khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 20; khoản 5 Điều 34; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 50; điểm a và điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 51; điểm a và điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 52; điểm a và điểm c khoản 2 Điều 54; khoản 1 và khoản 2 Điều 55; khoản 1 Điều 57; khoản 1 Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 59; Điều 60; khoản 1 Điều 61 Nghị định này.
- Bộ đội biên phòng xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 11; điểm b khoản 2 Điều 12; Điều 13; điểm c khoản 5, điểm e khoản 6 Điều 15; Điều 16; điểm b khoản 3, điểm a khoản 5 Điều 18; điểm b khoản 3, điểm a khoản 5 Điều 19; khoản 1, điểm a khoản 4 và điểm đ khoản 7 Điều 20; điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 24; các Điều 25, 31 và 33; các điểm a, b và c khoản 2, các khoản 3, 4 và 6 Điều 34; điểm a và điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 36 và Điều 43 Nghị định này.
- Cảnh sát biển xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9; điểm b khoản 2 Điều 11; điểm c khoản 1 Điều 14; điểm a khoản 1 Điều 16; điểm b khoản 3 và điểm a khoản 5 Điều 18; điểm b khoản 3 và điểm a khoản 5 Điều 19; khoản 1 và điểm a khoản 7 Điều 20; Điều 24; Điều 25; Điều 33; điểm a và điểm c khoản 2, các khoản 3, 4 và 6 Điều 34; điểm a và điểm b khoản 1 Điều 35 và Điều 36 Nghị định này.
- Hải quan xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 3 và điểm a khoản 5 Điều 18; điểm b khoản 3 và điểm a khoản 5 Điều 19; điểm đ khoản 7 Điều 20 Nghị định này.
- Quản lý thị trường xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 7; khoản 4 và khoản 5 Điều 9; Điều 13; các khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 15; khoản 2 Điều 16; điểm c khoản 6 Điều 18; điểm đ khoản 7 Điều 20; khoản 5 Điều 21; các Điều 31, 33 và 34; điểm a và điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 36; Điều 48 và Mục 4 Chương III Nghị định này.
- Thanh tra chuyên ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II và Chương III Nghị định này.
- Thanh tra Thông tin và Truyền thông xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 8; Mục 1, Mục 2 và Mục 4 Chương III Nghị định này.
- Thanh tra Y tế xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Mục 1 Chương III; các Điều 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55 và 56 Nghị định này.
- Thanh tra Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Mục 1 Chương III; hành vi quảng cáo trên bảng, băng - rôn không tuân theo quy định về khu vực đê điều tại điểm c khoản 3 Điều 42; các Điều 49, 57, 58, 59, 60, 61 và 62 Nghị định này.
- Thanh tra Xây dựng xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm b và điểm c khoản 5 Điều 17 Nghị định này.
- Thanh tra Giao thông vận tải xử phạt đối với hành vi treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột tín hiệu giao thông tại khoản 1, hành vi quảng cáo làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông tại điểm b khoản 2 Điều 34; hành vi quảng cáo trên bảng, băng - rôn không tuân theo quy định về khu vực hành lang an toàn giao thông, che khuất đèn tín hiệu giao thông, chăng ngang đường giao thông quy định tại điểm c khoản 3 Điều 42; Điều 43; khoản 2 Điều 44; khoản 2 Điều 46 và điểm b khoản 3 Điều 48 Nghị định này.
- Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 4 Điều 8; điểm a khoản 5 Điều 11; Điều 32; điểm c khoản 2, điểm c khoản 4 Điều 34; điểm d khoản 2 Điều 50 Nghị định này.
- Thanh tra Tài nguyên và Môi trường xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 7 Điều 20 Nghị định này.
Như vậy, đối với quán karaoke lắp chốt cửa bên trong phòng hát, việc xử phạt sẽ do các cá nhân sau có thẩm quyền:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 64 Nghị định 38/2021/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 17 Điều 4 Nghị định 129/2021/NĐ-CP).
- Công an nhân dân: Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông; Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ; Cục trưởng Cục An ninh kinh tế; Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội; Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu; Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Tư lệnh Cảnh sát cơ động (Điều 66 Nghị định 38/2021/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 19 Điều 4 Nghị định 129/2021/NĐ-CP).
- Quản lý thị trường: Đội trưởng Đội Quản lý thị trường, Trưởng phòng Nghiệp vụ thuộc Cục Nghiệp vụ quản lý thị trường; Cục trưởng Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ quản lý thị trường thuộc Tổng cục Quản lý thị trường; Tổng cục trưởng Tổng Cục Quản lý thị trường (Điều 70 Nghị định 38/2021/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 4 Nghị định 129/2021/NĐ-CP).
- Thanh tra chuyên ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chánh Thanh tra sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ; Chánh Thanh tra bộ (Điều 65 Nghị định 38/2021/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 18 Điều 4 Nghị định 129/2021/NĐ-CP).
Tổng kết lại, đối với quán karaoke lắp chốt cửa bên trong phòng hát, có nhiều cá nhân có thẩm quyền xử phạt, bao gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và tỉnh, các cán bộ Công an nhân dân, cán bộ quản lý thị trường và cán bộ thanh tra chuyên ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các cá nhân này được ủy quyền xử phạt theo quy định của Nghị định số 38/2021/NĐ-CP và sửa đổi của Nghị định số 129/2021/NĐ-CP. Việc áp dụng biện pháp xử phạt này nhằm đảm bảo tuân thủ quy định về an toàn và trật tự công cộng trong hoạt động của quán karaoke, đồng thời bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của khách hàng sử dụng dịch vụ karaoke.
3. Nộp tiền xử phạt đối với quán karaoke lắp chốt cửa bên trong phòng hát có thời hạn là bao nhiêu ngày?
Theo khoản 1 Điều 73 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cá nhân và tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ quyết định xử phạt trong vòng 10 ngày, tính từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi rõ thời hạn thi hành lâu hơn 10 ngày, thì thời hạn đó sẽ được áp dụng.
Quy định này nhằm đảm bảo sự chấp hành kịp thời và hiệu quả của quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Nếu cá nhân hoặc tổ chức không tuân thủ quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, họ có thể bị xem là vi phạm hành chính tiếp và có thể đối mặt với các hậu quả pháp lý và biện pháp thi hành cưỡng chế từ phía cơ quan chức năng.
Tuy nhiên, nếu quyết định xử phạt vi phạm hành chính có thời hạn thi hành lâu hơn 10 ngày, cá nhân hoặc tổ chức sẽ được thực hiện theo thời hạn đó. Điều này có nghĩa là họ phải tuân thủ và thực hiện quyết định xử phạt trong khoảng thời gian được ghi rõ trong quyết định.
Việc tuân thủ quyết định xử phạt vi phạm hành chính là rất quan trọng để duy trì trật tự và an ninh công cộng. Nếu không tuân thủ, cá nhân và tổ chức có thể tạo ra môi trường không ổn định và gây ra sự không công bằng trong xã hội. Do đó, việc tuân thủ quyết định xử phạt vi phạm hành chính là một trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả cá nhân và tổ chức để đảm bảo tuân thủ pháp luật và góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, liên hệ đến hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn