1. Cách thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn ?

Thưa luật sư, tôi năm nay 32 tuổi, vợ chồng tôi ly hôn được khoảng 01 năm. Trước kia tôi nhường quyền nuôi con cho vợ nhưng hiện tại cô ấy không có nhà và không trực tiếp nuôi con mà ông bà ngoại trực tiếp nuôi con. Nay tôi muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con vậy tôi phải làm thế nào?

Tôi cũng nghe mọi tư vấn nhưng hiện nay vợ tôi đi đâu tôi không biết nhà ngoại lại cố tình giấu không cho tôi biết, cũng không đưa tôi giấy tờ của cháu và hộ khẩu để tôi tiến hành thủ tục nhập học rồi chuyển trường cho cháu. Tôi không biết phải làm sao vì hiện nay cháu đã hơn 04 tuổi rồi ạ. Mong luật sư tư vấn cụ thể phải làm sao để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn khi mà vợ tôi không còn thường trú ở quê nhà nữa ?

Tôi cảm ơn ạ.

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp, vợ chồng bạn đã ly hôn được 01 năm nay. Lúc ly hôn bạn đã nhường quyền nuôi con cho vợ bạn vì lúc đó con bạn còn bé cần sự chăm sóc của người mẹ. Nhưng hiện nay, vợ bạn đã không còn cư trú tại nơi cư trú hiện tại. Do đó, bạn muốn giành lại quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Lúc này, căn cứ theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Như vậy, bạn có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con khi thuộc một trong hai trường hợp sau:

Một là, bạn và vợ bạn có thỏa thuận được với nhau về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, trên thực tế, hiện nay bạn không biết địa chỉ thường trú của vợ bạn ở đâu? Gia đình bên vợ, ông bà ngoại cũng không cung cấp thông tin gì về nơi ở hiện nay của vợ bạn cho bạn. Chính vì vậy, khả năng bạn thỏa thuận được với vợ rất khó, bạn cũng không thể thỏa thuận được với bố mẹ vợ để giao con cho bạn nuôi. Bố mẹ vợ bạn không đồng ý cho bạn mang cháu về nuôi nên mới không cung cấp thông tin của vợ bạn cho bạn và cũng không đưa các giấy tờ cần thiết để bạn thực hiện chuyển trường học cho cháu. Mặc dù vợ bạn không còn cư trú ở đó nhưng ông bà ngoại vẫn muốn giành quyền nuôi cháu.

Hai là, bạn có bằng chứng chứng minh được vợ bạn hiện nay không còn khả năng, điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Do đó, bạn có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn từ vợ bạn sang cho bạn. Lúc này, bằng chứng bạn có thể đưa ra là: xác nhận của chính quyền địa phương về việc vợ bạn không còn thường trú ở nơi con bạn đang sinh sống với ông bà, hình ảnh, video, băng ghi âm hoặc ghi hình về việc xác nhận của hàng xóm cũng như của bố mẹ vợ của bạn chứng minh được vợ bạn không còn có mặt ở nơi cư trú đó,... Đồng thời, bạn cũng cần phải chứng minh bạn có đủ điều kiện, đủ khả năng để nuôi dưỡng con sau khi mang cháu về trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thông qua các hợp đồng lao động, thu nhập riêng của bạn, sổ tiết kiệm ngân hàng hoặc các tài sản khác,... Lúc này, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp, Tòa án sẽ ra quyết định giao con cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Như vậy, trong trường hợp này của bạn, bạn nên làm đơn nộp tới Tòa án để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn khi bạn có căn cứ chứng minh được việc vợ bạn không còn đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Thủ tục ly hôn khi đời sống hôn nhân không hạnh phúc ?

Xin chào luật sư! Hiện tại tôi và vợ có nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tôi làm đơn xin đơn phương ly hôn, nhưng hiện tại vợ tôi không cung cấp giấy tờ. Tôi có lên ủy ban nhân dân nơi làm giấy chứng nhận kết hôn để xin cấp bản sao giấy chứng nhận kết hôn từ sổ gốc, nhưng bộ phận tư pháp yêu cầu phải có chữ ký của cả hai vợ chồng mới cấp bản sao.

Thứ nhất, Xin nhờ luật sư tư vấn cho tôi làm cách nào để xin cấp bản sao khi không có chữ ký của vợ. Thứ hai, hiện tại chúng tôi có những mâu thuẫn ngầm, không tìm được tiếng nói chung, đời sống ngột ngạt. Chúng tôi sống chung nhà, nhưng 2 năm qua không có đời sống tình dục, tôi ngủ riêng dưới sàn nhà dù chung phòng. Xin hỏi:

- Có được xem là ly thân không, Có được chấp nhận là căn cứ ly hôn không?

- Vợ tôi nhất quyết không chấp nhận dù không còn hạnh phúc. Xin nhờ luật sư tư vấn, với những mâu thuẫn ngầm như vậy, tôi cần trình bày thế nào để tòa chấp nhận?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về thủ tục ly hôn khi đời sống hôn nhân không hạnh phúc ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch:

Trong trường hợp Sở Tư pháp cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch, mà các việc hộ tịch trước đây do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đăng ký theo quy định tại Nghị Định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch.

Về việc bạn hỏi như trường hợp của bạn có được coi là ly thân hay không?

Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành hoàn toàn không có chế định về ly thân. Vì luật không quy định nên không có một định nghĩa chính xác về ly thân, cũng không có cơ quan, tổ chức nào đứng ra giải quyết cho ly thân theo hướng ra quyết định hoặc bản án công nhận cho ly thân. Trong quy định về căn cứ cho ly hôn cũng không có quy định là vợ chồng phải sống ly thân một thời gian rồi mới được ly hôn.

Ly thân, hiểu đơn giản là sự sống riêng giữa vợ và chồng, như là không ăn chung, ở chung, không sinh hoạt vợ chồng. Mục đích của ly thân, theo quy định của luật pháp các nước là để giảm thiểu những căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ và chồng hoặc tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra. Đồng thời để các bên có thời gian suy ngẫm, ăn năn hối cải, khắc phục lỗi lầm, sửa đổi tính tình, tha thứ cho nhau… để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống. Ly thân không làm chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng nên trong thời gian sống ly thân, các bên vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với con chung và tài sản.

Mặt khác, nếu qua quá trình ly thân mà tình trạng vợ chồng vẫn trầm trọng, vợ hoặc chồng vẫn chứng nào tật nấy, không cảm thông, tha thứ cho nhau, không khắc phục lỗi lầm, không dung hòa… khi ấy, các bên có thể xin ly hôn.

Như vậy, ly thân là để hướng đến sự đoàn tụ, chứ không phải để hướng đến ly hôn. Với ý nghĩa đó, ly thân không phải là bước đệm để ly hôn. Tuy nhiên, nếu sau một thời gian ly thân mà các bên vẫn không thể nào đoàn tụ được, lúc đó ly thân là cơ sở để tòa án xem xét giải quyết thủ tục ly hôn.

Như vậy ly thân không là căn cứ được chấp nhận để ly hôn

Theo Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Ly hôn theo yêu cầu của một bên.

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, thì theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tòa án khuyến khích hai bên hòa giải ở cơ sở ,và ki bạn nộp đơn ra tòa giải quyết ly hôn thì tòa sẽ thụ lý đơn theo yêu cầu của pháp luật tố tụng dân sự và tòa sẽ tiến hành hòa giải tại tòa án(Điều 53,54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

Sau khi hòa giải không thành và có căn cứ về việc vợ chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.thì tòa sẽ tiến hành thụ lý giải quyết ly hôn.

Như vậy, bạn phải chứng minh được đời sống hôn nhân của vợ chồng bạn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án mới giải quyết cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn về ly hôn và phân chia tài sản sau khi ly hôn ?

Xin chào văn phòng luật minh khuê ! Bố mẹ em đã kết hôn được 30 năm. Nhưng khoảng 6 năm gần đây thì bố em có ngoại tình và có con riêng. Thời gian gần đây bố em có ý định đón con riêng về nuôi, mẹ em không đồng ý và muốn ly hôn.

Bố em không đồng ý ly hôn nên mẹ muốn ly hôn đơn phương. Nhà có 2 chị em, em đã lập gia đình và em gái vừa học xong đại học. Tài sản chung của bố mẹ có 1 mảnh đất 250 mét vuông hiện tại đang sinh sống đứng tên chung cả 2 người, trên mảnh đất có nhà và phòng trọ cho thuê. Tất cả nhà và phòng trọ đều do cả bố và mẹ cùng làm việc rồi xây dựng lên, tổng giá trị nhà và đất khoảng 4 tỷ.

Em muốn hỏi về thủ tục ly hôn đơn phương và phân chia tài sản sau khi ly hôn của bố mẹ em ? Án phí mà mẹ em sẽ phải chi trả khi ra tòa là bao nhiêu ?

Mong luật sư tư vấn giúp em !

Luật sư tư vấn :

Theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, vợ hoặc chồng muốn đơn phương ly hôn phải thỏa các quy định sau: Có căn cứ chứng minh vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình. Có căn cứ chứng minh vợ hoặc chồng vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ làm cho đời sống chung trở nên căng thẳng, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được.

Hồ sơ đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- CMND của vợ và chồng;

- Giấy khai sinh của các con (nếu có);

- Sổ hộ khẩu.

- Các giấy tờ khác chứng minh quyền sở hữu tài sản.

Để thực hiện thủ tục đơn phương ly hôn, vợ hoặc chồng phải đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú hoặc làm việc của bị đơn (bị đơn ở đây là người còn lại bị yêu cầu ly hôn).

Thời hạn giải quyết thủ tục đơn phương ly hôn : Theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan nào đó thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Vậy tổng thời gian tối đa của vụ án đơn phương ly hôn là 06 tháng.

Các bước tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương :

- Bước 1 : Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND nơi bị đơn cư trú.

- Bước 2 : Nhận kết quả xử lý đơn

- Bước 3 : Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí đơn phương cho Tòa án.

- Bước 4 : Tòa án sẽ triệu tập lấy lời khai, hòa giải và tiến hành thủ tục theo quy định của Pháp luật Tố tụng dân sự;

Án phí : Theo Điều 24 Nghị quyết số 326/2016 quy định : Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động: 300.000 đồng. Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch sẽ được xác định theo giá trị tài sản tranh chấp. Các trường hợp được miễn, giảm án phí dân sự cũng được quy định cụ thể tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong trường hợp vợ chồng khi ly hôn thì việc chia tài sản khi ly hôn theo các nguyên tắc sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.''

Như vậy, để phân chia tài sản khi ly hôn phải xác định được tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể như sau:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy căn nhà bố mẹ bạn đang ở trên mảnh đất 250m2 sẽ được chia dựa trên công sức đóng góp để tạo lập ngôi nhà và dựa trên yếu tố lỗi cửa mỗi bên vi phạm quyền, nghĩa vụ của vơ chồng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số : 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Hướng dẫn cách chia tài sản khi ly hôn ?

Thưa luật sự, mẹ cháu đã lấy 1 chồng trước và sau khi ly dị, mẹ cháu được tòa chia cho 200 mét đất vườn. Sau này, mẹ cháu lấy thêm 1 chồng sau nữa, trong thời gian 2 người sống chung với nhau, mẹ cháu mới tách thửa và chuyển đổi sang đất ở. Cháu là con riêng của mẹ. Mẹ cháu mới bán đất đó và lấy tiền xây nhà cho cháu. Nhà, đất đều có giấy tờ mang tên cháu. Đất và nhà được mua và xây trong thời kỳ hôn nhân. Bây giờ, khi ra tòa thì tòa bảo là nhà và đất là của cháu nhưng tài sản làm nên nhà là tài sản chung nên phải chia ra mặc dù toàn bộ tiền xây nhà là tiền mẹ cháu bán đất của mẹ mà có được.

Trong thời kỳ làm nhà(trong thời kỳ hôn nhân), mẹ cháu lấy tên cháu (vì giấy tờ nhà mang tên cháu) đi vay ngân hàng dể hoàn thành nhà ở. Vậy xin cho cháu hỏi hai vấn đề :

Thứ nhất, về tài sản: khi mẹ cháu và chồng sau ly dị thì nhà và đất vẫn thuộc tài sản của cháu phải không ? mảnh đất mà mẹ cháu tách thửa và chuyển đổi thuộc tài sản riêng của mẹ cháu hay tài sản chung? nếu mảnh đất là tài sản riêng thì khi bán đất xây nhà thì tiền bán đất vẫn là tài sản riêng của mẹ cháu phải không ?

Thứ hai, về việc khoản nợ: nếu nợ đó xuất hiện trong thời kỳ hôn nhân và cũng là tài sản làm nên nhà thì nợ đó cũng phải chia ra phải không ?

Kính mong luật sư giải đáp thắc mắc của cháu sớm nhất có thể , cháu xin chân thành cám ơn!

Chia tài sản khi ly hôn khi giấy tờ tài sản đều mang tên của con riêng có được coi là tài sản riêng không?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, về tài sản: khi mẹ bạn và chồng sau ly dị thì nhà và đất vẫn thuộc tài sản của bạn vì phần tài sản này đã được mẹ bạn cho bạn trong thời kì hôn nhân của mẹ bạn với người chồng sau. Tuy nhhiên, mẹ bạn đã làm sổ đỏ đứng tên bạn. Như vậy, đây được xác định là tài sản riêng mảnh đất mà mẹ bạn tách thửa và chuyển đổi thuộc tài sản riêng của mẹ bạn nếu mảnh đất là tài sản riêng thì khi bán đất xây nhà thì tiền bán đất vẫn là tài sản riêng của mẹ bạn

Về việc khoản nợ: nếu nợ đó xuất hiện trong thời kỳ hôn nhân và cũng là tài sản làm nên nhà thì nợ đó có thể được chia nếu có thỏa thuận.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Khi nào được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn ?

Xin chào luật sư, tôi có vướng mắc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi:Tôi và vợ mới ly hôn được 03 tháng. Theo quyết định của Tòa án thì vợ tôi sẽ là người trực tiếp nuôi con, cháu nay được 04 tuổi, nhưng từ khi ly hôn đến nay, cháu vẫn ở cùng với tôi và được ông bà nội chăm sóc, còn vợ tôi đã có quan hệ mới với người khác, cô ấy cũng không quan tâm đến con.

Vậy cho tôi hỏi: bây giờ tôi có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được 03 tháng hay không?

Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư, tôi xin cảm ơn!

Ly hôn được 03 tháng có được phép thay đổi người trực tiếp nuôi con không?

Luật sư hướng dẫn giải quyết tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 84Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

"1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên."

Như vậy, theo quy định của pháp luật, bạn hoàn toàn có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn mà không quy định sau bao lâu kể từ thời điểm ly hôn thì mới được phép thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Có nghĩa là, bạn ly hôn được 03 tháng hay thậm chí 01 tháng hay 02 năm thì bạn vẫn có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, khi làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì bạn phải có một trong hai căn cứ sau:

Một là, bạn và vợ bạn thỏa thuận với nhau về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích về mọi mặt của con.

Hai là, vợ bạn là người được giao trực tiếp nuôi con nhưng không có khả năng nuôi con bao gồm điều kiện về vật chất lẫn tinh thần để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Như vậy, trong trường hợp này của bạn, sau khi ly hôn, mặc dù Tòa án ra quyết định giao con cho vợ bạn trực tiếp nuôi nhưng vợ bạn không trực tiếp nuôi con mà để bạn nuôi 03 tháng nay, thậm chí vợ bạn cũng không quan tâm đến con. Căn cứ vào những điều này, bạn phải nộp lên Tòa án những bằng chứng để Tòa án căn cứ vào những bằng chứng này để giao quyền nuôi con lại cho bạn nuôi. Bạn hoàn toàn có căn cứ để làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, vì con bạn mới hơn 04 tuổi nên không cần xem xét nguyện vọng của cháu, mà chỉ cần căn cứ vào lợi ích phù hợp về mọi mặt cho cháu.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?