1. Năm ký kết Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam - Campuchia
Dựa trên Hiệp ước hòa bình, tình bạn và sự hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Campuchia, được ký kết vào ngày 18 tháng 02 năm 1979, chúng ta chứng kiến một cam kết chặt chẽ và bền vững giữa hai quốc gia lâu dài này. Đã qua hơn bốn thập kỷ, mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia không chỉ là sự liên kết chính trị mà còn là biểu tượng của sự hiểu biết, tôn trọng và tương thân tương ái. Hiệp ước đã là nền tảng vững chắc, tạo điều kiện cho cả hai bên xây dựng một cộng đồng hòa bình và phồn thịnh.
Qua nhiều thập kỷ, chúng ta chứng kiến sự phát triển không ngừng của hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa, từ giáo dục đến an ninh. Việt Nam và Campuchia không chỉ là đối tác quốc tế mà còn là bạn đồng lòng, xây dựng và phát triển cùng nhau trên nền tảng của sự tin tưởng và hiểu biết chặt chẽ. Tình hữu nghị giữa hai quốc gia đã trở thành một nguồn động viên mạnh mẽ, thúc đẩy sự phồn thịnh và tiến bộ chung. Hai bên không chỉ chia sẻ những giá trị cơ bản mà còn hỗ trợ nhau trong những thời kỳ thách thức và khó khăn. Mỗi ngày, mối quan hệ này trở nên chặt chẽ hơn, đóng góp vào sự ổn định và phát triển của cả khu vực.
Nhìn về tương lai, chúng ta có thể tin tưởng rằng sự hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia sẽ tiếp tục mạnh mẽ, đa dạng hóa và phát triển sâu rộng. Nền tảng của Hiệp ước hòa bình và tình bạn từ năm 1979 sẽ tiếp tục là động lực cho một tương lai hòa bình, ổn định và phồn thịnh, không chỉ cho hai quốc gia mà còn cho toàn bộ cộng đồng quốc tế. Với khao khát mạnh mẽ xây dựng một đường biên giới không chỉ là ranh giới vật lý mà còn là biểu tượng của sự hòa bình và tình bạn lâu dài giữa hai quốc gia, chúng ta đặt ra một mục tiêu cao cả. Mục tiêu đó không chỉ là bảo vệ sự độc lập và chủ quyền của từng quốc gia mà còn là xây dựng một quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Campuchia, nơi tôn trọng và hiểu biết chặt chẽ là nền tảng.
Chúng ta cam kết tuân thủ nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, làm nền tảng cho sự hiểu biết và hợp tác tốt đẹp hơn giữa hai quốc gia. Mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Campuchia không chỉ là quan hệ hai bên, mà còn là hình mẫu mà chúng ta mong muốn chia sẻ với thế giới về cách xây dựng và duy trì một môi trường hòa bình. Chúng ta nhìn thấy trong sự hợp tác này không chỉ là việc bảo vệ an ninh biên giới mà còn là cơ hội để tăng cường sự hiểu biết, giao lưu văn hóa và kinh tế. Qua việc xây dựng một cộng đồng vững chắc, chúng ta đang đóng góp vào sự ổn định và phồn thịnh của cả khu vực.
Đường biên giới không chỉ là ranh giới vật lý mà còn là cầu nối văn hóa và lịch sử giữa hai dân tộc. Chúng ta hướng tới một tương lai không chỉ có biên giới hòa bình mà còn là biểu tượng của sự đoàn kết và tương thân tương ái giữa Việt Nam và Campuchia. Chính phủ của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ của Cộng hòa Nhân dân Campuchia đã chứng kiến một bước quan trọng trong việc định rõ quy chế biên giới giữa hai quốc gia thanh niên này thông qua việc ký kết Hiệp định vào ngày 20/7/1983 tại thành phố Nông Pênh.
Hiệp định này không chỉ là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xác định ranh giới vật lý giữa Việt Nam và Campuchia, mà còn là biểu tượng của sự hòa bình và tình bạn giữa hai quốc gia láng giềng. Việc lập thành hai bản Hiệp định, một bằng tiếng Việt và một bằng tiếng Khơ-me, là sự thể hiện rõ ràng về sự tôn trọng đối với cả hai bên và ý định xây dựng một cộng đồng thông tin chặt chẽ.
Ngày 20/7/1983 là ngày quan trọng đánh dấu cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, nơi mà hai nước đã cùng nhau tạo ra một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ để giữ vững an ninh và hòa bình tại biên giới chung. Sự đồng thuận và sự hiểu biết được thể hiện trong Hiệp định này đặt nền tảng cho sự phát triển bền vững của mối quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia thanh niên này. Hơn thế nữa, việc lập thành hai bản Hiệp định bằng hai ngôn ngữ chính là một biểu tượng của sự đa dạng và sự tôn trọng đối với văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ của cả hai cộng đồng. Điều này không chỉ củng cố mối quan hệ quốc tế mà còn mở ra cơ hội để xây dựng một cộng đồng toàn cầu dựa trên sự tương hiểu và tương thân tương ái.
2. Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam - Campuchia đã mở những cửa khẩu nào?
Theo quy định tại Điều 12 Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam - Campuchia 1983 thì Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam - Campuchia đã mở những cửa khẩu sau:

Dựa trên Điều 12 của Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam và Campuchia năm 1983, chúng ta chứng kiến sự thấu hiểu và chấp nhận lẫn nhau, được thể hiện qua việc hai bên đã thống nhất mở tám cửa khẩu quan trọng trên các tuyến đường bộ và sông quan trọng. Điều này là bước tiến quan trọng nhằm tạo ra một môi trường kiểm soát chặt chẽ, nhưng cũng đảm bảo sự thuận tiện và linh hoạt cho người dân và hoạt động giao thương qua biên giới.
- Các cửa khẩu chính sẽ được trang bị trạm kiểm soát, nơi có trách nhiệm kiểm tra và giám sát người, hành lý, hàng hóa và phương tiện vận chuyển theo quy định rõ ràng của Hiệp định và các thỏa thuận liên quan khác của hai nước, cũng như theo luật lệ liên quan của từng quốc gia. Điều này chính là bảo đảm tính minh bạch và tính tuân thủ trong quản lý biên giới.
- Đồng thời, để phục vụ nhu cầu của những khu vực biên giới xa cửa khẩu chính, chính quyền cấp tỉnh của hai bên có thể thảo thuận và quyết định mở thêm cửa khẩu phụ trên các đường nhỏ hoặc đường mòn. Điều này nhằm đảm bảo sự thuận tiện cho việc đi lại của người dân trong khu vực biên giới, đồng thời thúc đẩy hoạt động kinh tế và giao thương cộng đồng.
- Chấp nhận việc đồn biên phòng nơi đó phụ trách kiểm soát sự qua lại ở cửa khẩu phụ là một biện pháp hợp lý, mang lại sự linh hoạt và hiệu quả trong quản lý biên giới, đồng thời tăng cường vai trò của cơ quan chính quyền địa phương trong việc duy trì an ninh và trật tự tại những khu vực này.
3. Quy định đối với nhân dân, hàng hóa hai nước qua biên giới theo Hiệp định
Tại Điều 13 Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam - Campuchia 1983 thì nhân dân, cán bộ, bộ đội và hàng hóa của hai nước, khi di chuyển qua biên giới, phải tuân thủ những quy định sau đây với sự hiểu biết và tôn trọng đối với quy chế và an ninh cả hai quốc gia:
- Đối với cán bộ, viên chức, công nhân thuộc mọi lĩnh vực, kể cả quân đội, khi đi qua biên giới vì các mục đích như công tác, thăm hữu nghị, học tập, chữa bệnh hoặc lý do khác, cũng như kiều dân của cả hai bên, họ phải được phép đi về dựa trên hộ chiếu hoặc các giấy tờ có giá trị tương đương với hộ chiếu, do Bộ Ngoại giao nước tương ứng cấp.
- Đối với cán bộ, viên chức, công nhân từ các lĩnh vực và tỉnh thành không phải là tỉnh biên giới của mỗi nước, khi đi qua biên giới để thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc đã được thỏa thuận giữa hai bên, họ cần phải có giấy thông hành do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Nội vụ hoặc Bộ Ngoại giao của mỗi nước cấp.
- Trong trường hợp các đơn vị quân đội hoặc quân nhân đi riêng lẻ của mỗi bên di chuyển qua biên giới để thực hiện các nhiệm vụ được thảo thuận bởi Bộ Quốc phòng hai nước, yêu cầu phải có một giấy giới thiệu qua biên giới từ các cơ quan quan sự có thẩm quyền, được chỉ định bởi hai Bộ Quốc phòng.
- Đối với cán bộ, viên chức và công nhân thuộc tỉnh biên giới của mỗi nước khi di chuyển qua tỉnh biên giới của bên kia để thực hiện nhiệm vụ hoặc thăm viếng hữu nghị, họ cần phải được trang bị giấy thông hành biên giới do chính quyền cấp tỉnh của mỗi nước ban hành. Giấy thông hành này chỉ có giá trị trong phạm vi của tỉnh biên giới mà nó được cấp.
- Đối với những người dân của mỗi nước, khi di chuyển qua biên giới vì những lý do cá nhân như thăm người thân, làm lễ bốc mồ mả và các công việc tương tự, họ phải được trang bị giấy tờ có giá trị ngang với hộ chiếu, do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Nội vụ hoặc Bộ Ngoại giao cấp.
- Những người dân đến từ khu vực biên giới của một bên và di chuyển sang khu vực biên giới của bên kia theo quy định tại khoản a của Điều 5 trong Hiệp định, họ cần phải có giấy chứng minh biên giới. Trong trường hợp muốn lưu lại khu vực biên giới đó quá ba ngày, họ phải có giấy phép được cấp bởi chính quyền xã hoặc đơn vị bộ đội biên phòng gần nhất của bên phía mình. Họ sẽ xuất trình giấy chứng minh biên giới và giấy phép đó nếu có cho chính quyền cấp xã nơi họ đến, tuân thủ quy định tại Điều 15.b.
- Trong quá trình thực hiện chuyến hải hành giữa lãnh thổ của hai bên, thủy thủ tham gia các tàu của một bên cần phải có thẻ thủy thủ, một tài liệu quan trọng nhằm xác định danh tính và chứng minh tư cách của họ. Thẻ thủy thủ không chỉ là một văn bằng, mà còn là biểu tượng của sự chuyên nghiệp và trách nhiệm trong nhiệm vụ quan trọng là duy trì giao thông hàng hải và đối thoại chặt chẽ giữa hai quốc gia.
- Trong việc quản lý hàng hóa chuyển qua biên giới, mọi vật phẩm, ngoại trừ hàng quân sự, đều cần phải có giấy chứng nhận từ cơ quan quản lý của bên xuất khẩu. Điều này không chỉ đảm bảo tính chính xác và nguồn gốc của hàng hóa mà còn thể hiện sự tuân thủ và tôn trọng đối với quy định của cả hai nước. Cùng với đó, việc tuân thủ các quy định về hải quan, kiểm dịch và các luật lệ liên quan khác là quan trọng để tạo ra một quy trình hoạt động qua biên giới mạnh mẽ và minh bạch, góp phần vào sự an ninh và phồn thịnh của cả khu vực.
Ngoài ra, có thể tham khảo: Khu vực biên giới trên đất liền là gì? Xác định khu vực biên giới đất liền. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.