1. Khái quát về bảo hiểm khoản vay

Bảo hiểm khoản vay là một loại hình bảo hiểm được tạo ra nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho khoản vay trong trường hợp người vay mất khả năng trả nợ. Khi người vay bị mất tích hoặc chịu thương tật toàn bộ vĩnh viễn, dẫn đến việc mất khả năng tạo ra thu nhập để trả nợ, nghĩa vụ trả nợ không bị chấm dứt mà tiếp tục tồn tại cho đến khi người vay trả hết nợ cho ngân hàng.

Hơn nữa, trong trường hợp người vay không may tử vong, nghĩa vụ trả nợ sẽ chuyển sang những người thừa kế của người vay trong phạm vi di sản thừa kế. Theo khoản 8 Điều 658 của Bộ luật Dân sự năm 2015, "các khoản nợ đối với cá nhân, pháp nhân" là một trong những nghĩa vụ tài sản liên quan đến thừa kế và cần phải được thanh toán.

Khi xảy ra những tình huống như trên, công ty bảo hiểm sẽ đại diện cho khách hàng hoặc người thân của khách hàng để thanh toán các khoản nợ mà khách hàng đã vay tại ngân hàng.

Các ngân hàng thường khuyến nghị khách hàng mua bảo hiểm khoản vay cho tất cả các hợp đồng tín dụng, đặc biệt là các khoản vay tín chấp như vay tiêu dùng, khoản vay với số tiền vay cao và thời hạn dài như vay mua nhà. Việc mua bảo hiểm khoản vay thậm chí còn là một trong những tiêu chí quan trọng để các ngân hàng xem xét và duyệt cho khách hàng vay.

2. Ngân hàng thương mại có được ép khách hàng mua bảo hiểm khi vay vốn?

Hiện nay, giao dịch vay tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng đang rất phổ biến. Tuy nhiên, việc vay vốn có thể mang đến những rủi ro khi người vay không có khả năng thanh toán khoản nợ của mình. Vì lẽ đó, nhân viên ngân hàng thường khuyến nghị khách hàng mua bảo hiểm khoản vay kèm theo. Trường hợp khách hàng không mua, họ có thể nói rằng việc mua bảo hiểm là bắt buộc theo quy định của pháp luật và cũng là điều kiện để ngân hàng xét duyệt khoản vay cho khách hàng. Vậy, liệu bảo hiểm có bắt buộc khi vay không?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Thông tư liên tịch 86/2014/TTLT-BTC-NHNNVN, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, tổ chức tín dụng, và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể liên kết sản phẩm bảo hiểm với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, nhưng phải đảm bảo việc giao kết hợp đồng bảo hiểm riêng biệt và độc lập với các giao kết khác của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổ chức bảo hiểm phải chịu trách nhiệm độc lập về sản phẩm và dịch vụ mà họ cung cấp.

Tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định 73/2016/NĐ-CP, quy định về nguyên tắc tham gia bảo hiểm và cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại Việt Nam, cho biết tổ chức và cá nhân có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm mà họ muốn tham gia, và chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Trừ khi sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 90 của Nghị định này. Không ai được phép can thiệp trái pháp luật vào quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài của người mua bảo hiểm.

Ngoài ra, theo khoản 5 Điều 9 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, mọi hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép giao kết hợp đồng bảo hiểm là nghiêm cấm.

Thêm vào đó, theo khoản 2 Điều 8 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, các loại bảo hiểm bắt buộc bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, và bảo hiểm cháy nổ.

Mặt khác, Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng cũng không có điều khoản nào bắt buộc việc mua bảo hiểm nhằm đảm bảo khoản vay. Do đó, việc mua bảo hiểm cho khoản vay là một sự thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng, dựa trên sự tự nguyện, nhu cầu và khả năng tài chính của khách hàng, chứ không phải là quy định bắt buộc của pháp luật.

Vì vậy, dựa trên các quy định trên, ngân hàng thương mại không được thực hiện các hành vi ép buộc khách hàng mua bảo hiểm khi tiến hành giao dịch vay.

Hiện nay, bán bảo hiểm đã trở thành một nguồn thu nhập quan trọng cho ngân hàng và nhân viên của họ. Doanh số bán bảo hiểm cũng là một chỉ tiêu quan trọng đối với nhân viên ngân hàng. Do đó, khi khách hàng vay tiền, nhân viên ngân hàng thường mặc định sẽ đề nghị khách hàng mua bảo hiểm.

Tuy nhiên, thực tế là nhiều nhân viên ngân hàng không giải thích đầy đủ với khách hàng về lợi ích của các sản phẩm bảo hiểm đi kèm với khoản vay. Điều đáng ngạc nhiên là có những trường hợp nhân viên ngân hàng, vì muốn nhận hoa hồng, thậm chí nói với khách hàng rằng việc mua bảo hiểm là bắt buộc để hồ sơ được xử lý nhanh chóng. Hành động này đã tạo ra sự khó hiểu và tức giận đối với khách hàng.

Một trong những lý do mà nhiều nhân viên ngân hàng luôn nhắc đến vấn đề bảo hiểm khi khách hàng vay tiền là do chỉ tiêu doanh số mà họ phải đạt được. Do đó, khi khách hàng vay tiền, nhân viên không giải thích rõ về lợi ích của bảo hiểm đi kèm với khoản vay. Thậm chí, họ còn nói với khách hàng rằng việc mua bảo hiểm là bắt buộc. Hành động này đã gây ra sự tức giận và không hài lòng cho khách hàng.

Tuy nhiên, một cách khách quan, bảo hiểm cho khoản vay không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn giúp người vay bảo vệ bản thân và những người phụ thuộc khỏi rủi ro tài chính không may xảy ra. Tuy nhiên, việc tham gia bảo hiểm có chi phí khá cao, do đó, khách hàng cần xem xét và cân nhắc dựa trên tình hình tài chính và nhu cầu cá nhân của mình.

3. Ép khách hàng mua bảo hiểm khi vay vốn bị xử lý như thế nào?

Dựa theo quy định của Nghị định 98/2013/NĐ-CP, được bổ sung bởi Nghị định 48/2018/NĐ-CP, về việc xử phạt các hành vi vi phạm quy định về triển khai bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe, áp dụng các biện pháp phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với những hành vi vi phạm sau đây:

- Không cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, không giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi ký kết hợp đồng bảo hiểm.

- Không thực hiện thông báo cho bên mua bảo hiểm về tình trạng hợp đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

- Ép buộc bên mua bảo hiểm ký kết hợp đồng bảo hiểm bổ sung kèm theo hợp đồng bảo hiểm chính.

- Triển khai các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm sức khỏe không tuân thủ quy định của pháp luật.

- Ép buộc các tổ chức và cá nhân mua bảo hiểm dưới mọi hình thức.

Do đó, theo quy định trên, hành vi ép buộc khách hàng mua bảo hiểm khi vay vốn có thể bị xử phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với tổ chức (theo điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định 98/2013/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị định 80/2019/NĐ-CP).

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo bài viết:

Các loại bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật Việt Nam

Tiền bảo hiểm khoản vay có được trả lại không?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Ngân hàng thương mại có được ép khách hàng mua bảo hiểm khi vay vốn? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.