1. Xưng hô ở Việt Nam
Đây là một vấn đề trong lĩnh vực ngôn ngữ học và giáo dục học, nhưng rất liên quan đến phong tục cổ truyền. Mặc dù có vẻ đơn giản, tuy nhiên từ khi còn nhỏ cho đến khi lớn lên, chúng ta đều được giáo dục về cách xưng hô, nhưng vẫn khó tránh khỏi sai sót ngay cả khi đã lớn tuổi. Những sai sót nhỏ này có thể gây ra những thành kiến không tốt.
Ở các nước châu Á khác, có ba hình thức đại từ nhân xưng: người nói, người nghe và đối tượng, vật, hoặc sự việc được nói đến trong câu. Chỉ có sáu từ cơ bản được sử dụng, tất cả đều có thể dịch sang tiếng Việt là "tao", "mày", "nó", "chúng nó", "chúng tao", "chúng mày".
Ví dụ: "Bố mẹ cháu bảo cháu đưa ba cháu sang thăm hai cụ". Câu này nếu dịch từ đối ra tiếng nước ngoài thì như sau: "Chúng nó bảo tao đưa nó sang gặp chúng mày".
Trong văn hóa giao tiếp của người Việt, chúng ta đã từ nhỏ quen gọi theo tuổi. Ví dụ, nếu đáng tuổi là ông thì sẽ gọi là ông, còn đáng tuổi là bác thì sẽ gọi là bác. Tránh sử dụng các cụm từ như "mày tao chí tớ" hoặc "cá mè một lứa".
Chúng ta nên tôn trọng và thông cảm với những người nước ngoài học tiếng Việt. Hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt rất đa dạng và phức tạp. Nếu bạn là người nước ngoài, học tiếng Việt có thể khó khăn. Đặc biệt, đại từ nhân xưng trong tiếng Việt còn có màu sắc tình cảm, thể hiện những cảm xúc như yêu thương, giận dữ, kính trọng, ghét, khách sáo hoặc thân mật.
Trong việc xưng hô ta có những quy tắc phân biệt rõ ràng về tôn ti trật tự. Một câu hỏi được đặt bởi một cháu nhỏ: "Tại sao ông yêu cầu cháu phải thưa bẩm, nhưng cháu vẫn gọi ông là ông mà không thưa bẩm cháu?" Cháu cũng không hiểu vì sao cha mẹ có thể gọi con là thằng Giáp hoặc con Ất mà không bị phạt, trong khi khi con gọi tên cha mẹ thì sẽ bị cấm. Tại sao một người chú già vẫn được gọi là "ông trẻ"?
Cách sử dụng các từ để xưng hô phụ thuộc vào mức độ mối quan hệ giữa người nói và người nghe. Ví dụ, bạn thân thiết gọi nhau bằng từ "mày tao" hoặc "hắn" tùy thuộc vào tình cảm; trong khi gọi nhau bằng "thưa quý anh" hoặc "ông" có thể coi như việc gây ra xung đột. Trường hợp mới quen biết nhau và sử dụng từ "mày tao" có thể coi là bất lịch sự và khiến người nghe cảm thấy phiền toái, có thể không muốn trả lời. Từ "cụ già" và "lão già" có cùng nghĩa nhưng khi nói "Tôi hỏi cụ già" và "Tôi hỏi lão già" sẽ khác nhau. Còn có trường hợp "lão" không phải là người già mà là cách gọi thân mật.
Cách gọi tên tùy thuộc vào mối quan hệ gia đình và cách họ gắn bền tình thân. Nếu có mối quan hệ thân thuộc gắn kết, sẽ gọi theo quan hệ để thể hiện tình thân thiết hơn. Ví dụ, nếu một người trẻ hơn bạn nhưng là cha hoặc mẹ của bạn, bạn sẽ gọi họ bằng các từ chú, bác, cô hoặc dì. Trái lại, nếu một người tuổi trẻ nhưng là cháu của bạn, để cho phù hợp với vai trò, bạn có thể gọi họ bằng anh, ông, bác ông, để cho lịch sự và nhẹ nhàng hơn.
Quan hệ xã hội được ưu tiên, nếu không có quan hệ họ hàng, thì ta gọi theo phép "trưởng nhất tuế vi huynh, trưởng thập tuế vi phụ" (tuổi hơn một năm gọi là anh, tuổi hơn mười năm gọi là cha), tức là tôn trọng người giống như cha của mình và gọi chú hoặc bác. Đó là phép tôn xưng.
2. Lời chào
Trong ngôn ngữ của người Việt Nam, cụm từ "chào" thường đi kèm với cụm từ "hỏi" hoặc "mời". Các phong tục chào hỏi, chào mời và chào thưa sẽ khác nhau tùy theo vùng địa lý và phụ thuộc vào đối tượng được chào hoặc cách thức của người chào.
Đối với các cụ già, việc khúm núm kính cẩn đứng lại khi nói "bẩm cụ ạ" sẽ gây ra cảm tình ngay từ cụ, tuy nhiên, nếu người trung niên tân tiến làm vậy, người ta sẽ tưởng họ đang chế giễu. Họ "đi qua nghiêng nón không chào" không phải vì họ ghét nhau hoặc không quan tâm đến nhau, mà vì họ quá yêu nhau bằng cả lời nói và khóe mắt, nụ cười, trong một số trường hợp, mắt còn nói rõ hơn miệng.
Chào và hỏi thường đi đôi với nhau, ví dụ như: "ông có khỏe không?" và "ông đi đến đâu?" Tại một số trường hợp, hỏi chỉ là bắt đầu cho một cuộc trò chuyện mà không cần trả lời, nhưng nếu không chào hỏi, sẽ tạo ra một cảm giác tức giận và mờ nhạt.
Khi mở mời ai đó, ta cần phân biệt giữa mời nghiêm túc và mời chỉ là lời chào. Hành khách trên hai tàu đi dọc sông cũng tương tự nhau, mời nhau ăn cơm nhưng chỉ là lời mời dễ dàng thay vì lời chào thật sự. Lời chào cao hơn mâm cỗ.
Phong cách, nề nếp gia đình, mỹ tục địa phương và dân tộc được biểu hiện trong lời chào. Tuy nhiên, thói quen chào mừng thay đổi theo thời gian và vị trí. Trước đây, chào hỏi bằng cách vái lạy, nhưng bây giờ chào bằng cách bắt tay.
3. Tôn sư trọng đạo
Dân tộc ta luôn tôn sư trọng đạo, không phân biệt thể chính. Vai trò của giáo viên luôn là biểu tượng của lớp trí tuệ, được toàn xã hội công nhận. Nghề giáo là nghề cao quý. Tại thời phong kiến và dân chủ, tất cả đều thống nhất trên một phương châm "tiên học lễ hậu học văn" và "trường học liên tục với gia đình và xã hội". Những nhân tài điều hành chính quyền đều được "thầy" dạy, tức là huấn luyện, và "không có thầy thì không có nến". Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đều dựa trên hệ thống thi cử, có bằng cấp và hạng mục rõ ràng.
Vì lý do trên, một câu hỏi được đặt ra là: Liệu đặt giá trị của thầy cao hơn cha có phù hợp không? Cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng ta, thầy giáo là người truyền đạt kiến thức cho ta. Vì vậy, sự thành công và giá trị của chúng ta đều do sự giúp đỡ của thầy. Trong quá khứ, mỗi thầy chỉ dạy cho một số học sinh và chỉ có vài thầy giáo mà học sinh học tập, trong khi bây giờ mỗi năm một lớp và mỗi môn một thầy. Có trường hợp thầy và học sinh cùng lều và đi thi cùng nhau, nhưng học sinh đậu còn thầy hỏng. Có những thầy giáo đào tạo ra nhiều tài năng, nhưng chính họ chẳng đạt gì, không được tôn vinh. Có những người sau khi đậu thi vẫn chỉ dạy học, không làm quan. Một số thầy giáo có đạo đức và tính trọng đáng hơn cha. Thầy Chu Văn An là một trong những thầy giáo được kính trọng nhất tại Văn Miếu.
Trong quá khứ, những giáo viên có một số học sinh đậu đạt cử nhân hoặc tiến sĩ thì tự nhiên sẽ đạt được một vai trò quan trọng trong xã hội, khiến cả quan tỉnh và quan huyện phải kính nể. Điều này không chỉ áp dụng cho giáo viên mà còn cho gia đình họ. Quang Trung từng mời Nguyễn Thiếp (La Son Phu Tử) làm quân sư ba lần, mục đích chính là để thu hút nhân sĩ Bắc Hà, vì Nguyễn Thiếp là giáo viên của nhiều triều thần Lê Trịnh tại thời điểm đó.
Ngành giáo dục tuy có chế độ thi hương, thi hội, thi đình rất nghiêm rất chặt, song rất ít giáo chức rất ít trường công, ở cấp huyện, cấp phủ chỉ có một vài huấn đạo giáo thụ ăn lương nhà nước, hầu hét là các lớp tư thục. Một nhà khá giả trong vùng nuôi thầy cho con ăn học, xóm làng chung quanh gửi con đến thụ giáo không phải nộp học phí, chỉ đến ngày mồng 5 tháng 5 ngày Tết... cha mẹ học trò mới đưa lễ tét đến tết thầy tùy tâm. Giàu có thì thúng gạo nếp, bộ quần áo... Nghèo thì một cơi trầu một be rượu cũng xong.
Môn sinh của một thầy thường tổ chức nhau lại gọi là Hội đồng môn, có trường tràng, giám tràng và một số cán tràng giúp việc trưởng tràng. Con thầy mặc dầu ít tuổi hơn cũng được gọi là thế huynh. Thày nào có tiếng dạy giỏi, dạy nghiêm thì được nhiều sĩ tử đến theo học, Hội đồng môn vận động các gia đình môn sinh đóng góp tiền của tạo ruộng, tạo trâu bò rồi phân công cày cấy, đến mùa màng gặt tự gánh về gia đình nhà thầy để gia đình thầy chi dụng. Khi thầy mất lại dùng ruộng đó lo tang ma cho thầy, cho vợ thầy và giỗ tết tế tự về sau.
Học trò để tang thầy cũng ba năm như tang cha mẹ, nhưng không mặc tang phục, gọi là tâm tang tức là đê tang trong lòng.