1. Tính dân tộc là gì?
Tính dân tộc là một phẩm chất bản chất xã hội của văn học. Mỗi dân tộc có cách sống, cách cảm thụ thế giới và hệ giá trị riêng do truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, tâm lí và ngôn ngữ tạo thành. Tính dân tộc có thể được hiểu là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng người có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, phương thức và chế độ chính trị trải qua một thời kì lịch sử lâu dài. Tính cách dân tộc là " những nét phẩm chất lặp đi lặp lại tạo thành bộ mặt tinh thần của dân tộc"
Tính dân tộc được thể hiện qua hai đặc tính sau:
1.1. Tính dân tộc là một phạm trù thẩm mĩ
Phạm trù này hoà quyện và xuyên thắm vào trong mọi yếu tố của văn học từ nguồn gốc, đối tượng, nhiệm vụ, chức năng đến nội dung ( cả ngôn ngữ, loại thể, thủ pháp, nghệ thuật,...) Trong một tác phẩm tính dân tộc là tổng hoà những đặc điểm và nội dung, hình thức chứ không phải nằm ở một yếu tố nào.
Lâu nay, vẫn có tình trạng lấn cấn, lẫn lộn, nhập nhằng: hoặc cho rằng đại phàm, văn chương là dân tộc. Do đó, đã không lí giải nổi tính dân tộc của tác phẩm xấu và tác phẩm tốt. Hoặc, lại có ý kiến cho rằng những tác phẩm tốt mới có tính dân tộc. Sự lẫn lộn, nhập nhằng đó là do không xem tính dân tộc như là một phạm trù thẩm mĩ. Thực ra, tính dân tộc là một phạm trù thẩm mĩ. Nó không chỉ là thuộc tính tất yếu của văn chương mà quan trọng là tiêu chuẩn đánh giá tư tưởng và nghệ thuật trong nội dung và hình thức của tác phẩm văn học. Do đó, tính dân tộc chủ yếu được nhìn nhận như một phạm trù giá trị. Nghĩa là khi nói đến tinh thần dân tộc là nói đến phẩm chất, nói đến sự kết tinh những bản sắc độc đáo của một dân tộc
1.2.Tính dân tộc là một phạm trù mang tính lịch sử
Tính dân tộc của văn học là một phạm trù mang tính lịch sử. Nó gắn liền với những sự kiện lịch sử - xã hội nhất định. Do đó, mà nó biến đổi không ngừng. Tính dân tộc không phải là một hệ thống khép kín những yếu tố nhất thành bất biến nào đó. Mà ngược lại, nó gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể và biến đổi, phát triển không ngừng. Do những điều kiện lịch sử - xã hội mà qua từng thời kỳ lịch sử tính lịch sử mang một nội dung không giống nhau. Stalin - nhà cách mạng, chính trị gia người Liên Xô:" Mọi vật đều thay đổi... Đời sống thay đổi và cùng với nó vấn đề dân tộc cũng thay đổi theo. Trong các thời kỳ khác nhau thì có những giai cấp khác nhau xuất hiện trên vũ đài đấu tranh, và mỗi giai cấp đều hiểu " vấn đề dân tộc " theo quan điểm riêng của mình. Do đó, trong những thời kỳ khác nhau " vấn đề dân tộc " phục vụ cho những lợi ích khác nhau, mang những sắc thái khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ và tuỳ theo giai cấp đề xuất ra nó". Ta có thể thấy sự thay đổi đó qua một ví dụ sau đây: Lòng thuỷ chung trước hết là thuỷ chung với Tổ quốc, với dân tộc. Tuy vậy, lòng thuỷ chung đó được các thời đại lịch sử hiểu qua chứ " trung" một cách khác nhau. Giai cấp phong kiến thống trị hiểu " Trung" là " trung quân ái quốc". Nhưng " Trung" được hiểu theo nội dung chung một cách mù quáng: " Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung". Đối với thời đại chúng ta " Trung" là "trung với nước, hiếu với dân".
2. Biểu hiện tính dân tộc trong văn học
Văn học thể hiện đời sống tinh thần của một dân tộc, nên mãi mãi tính dân tộc là một thuộc tính của văn chương. Không thể có nền văn chương của dân tộc này lại giống nền văn chương của dân tộc khác. Lịch sử văn học Việt Nam và thế giới đều hiển nhiên chứng tỏ điều đó. Có những dân tộc chỉ có mấy chục nghìn người cũng có nèn văn chương riêng, trong đó có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng thế giới. Chỉ bao giờ một dân tộc bị hoàn toàn đồng hoá thì nền văn học của dân tộc nó mưới dần dần bị biến mất mà thôi.
Đời sống tinh thần của một dân tộc, trong đó có văn học có sức sống rất dai dẳng. Có những dân tộc bị mất nước, bị ngoại bang đô hộ hàng trăm năm, thậm trí hàng nghìn năm nhưng dân tộc ấy không bị đồng hoá thì nền văn chương riêng của họ vẫn tồn tại và phát triển. Mỗi tác phẩm văn học có giá trị trở thành tín hiệu của một dân tộc thông báo với thế giới, góp phần cho thế giới nhận biết về dân tộc của mình. Không thể có một tác phẩm văn học có giá trị nào mà lại không có tính dân tộc riêng sâu sắc.
Tính dân tộc của một nền văn chương, của mỗi tác phẩm văn chương thể hiện ở rất nhiều khía cạnh, nhưng tập trung rõ nhất ở ba mặt: tư tưởng, tâm hồn, và những nét sinh hoạt của một dân tộc. Mỗi tác phẩm văn chương, dù là bài thơ hai câu hay một tiểu thuyết dài nhiều tập đều mang tư tưởng nhà văn, mà tư tưởng nhà văn thì sẽ mang tư tưởng của một dân tộc nhất định. Nếu có nhà văn ở một dân tộc, ở một thời nào đó tư tưởng đi ngược lại tư tưởng của dân tộc mình thì bao giờ cũng bị đào thải. Những nhà văn tiên tiến của mọi thời đại đều là người đại diện tiêu biểu của dân tộc mình về mặt tư tưởng.
Nguyễn Trãi đại diện cho tư tưởng yêu nước và nhân nghĩa của thời đại ông; " Truyện Kiều" của Nguyễn Du mang tư tưởng phản kháng và chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc ta cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX, những tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu mang tinh thần quật cường bất khuất của dân tộc cuối thế kỷ XIX, những tác phẩm văn chương của Hồ Chí Minh, Tố Hữu và nhiều nhà văn, nhà thơ hiện đại khác mang tư tưởng " Không có gì quý hơn độc lập tự do " của dân tộc ta ở thế kỷ XX. Đồng thời, mỗi tác phẩm văn chương đều thể hiện tâm hồn phong phú của một dân tộc. Vẻ đẹp tuyệt vời của tâm hồn người phụ nữ Việt Nam trong câu ca dao:" Chồng ta áo rách ta thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người" không thể lẫn với các dân tộc ở phương Tây. Đời sống tâm hồn phong phú và đa dạng của dân tộc Việt Nam thể hiện rất đậm nét trong " Truyện Kiều" của Nguyễn Du, dẫu tác phẩm có có khoác tấm áo cốt truyện Trung Quốc.
Tính dân tộc được bộc lộ ở tính cách, tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, đồng thời còn được bộc lộ qua diện mạo, y phục, hành động, động tác, cử chỉ,...
Nói về tình mẹ con, ca dao ta có câu:" Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa/ Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương" Đây là câu ca dao khá đặc sắc về tính dân tộc. Nó bộc lộ tư tưởng, tâm hồn Việt Nam qua hình ảnh và phong tục, tập quán, sinh hoạt người Việt Nam. Nghĩ về mẹ, nhớ về công lao của mẹ thường người ta vẫn nói đến những giọt sữa ngọt ngào, hay những lời ru êm ái... Nhưng ở đây tác giả bình dân nhớ mẹ qua hành động chăm nuôi con độc đáo như vậy. Người mẹ mớm từng miếng cơm nhai cho con không những tiếp cho con sự sống mà còn truyền cho con tình cảm... Nền văn chương Việt Nam từ 1945 đến nay, những tác phẩm chân chính với nhiều đề tài phản ánh khác nhau, thì đời sống tâm hồn con người Việt Nam bao giờ cũng hiện hệ đẹp đẽ: Anh hùng bất khuất, tình nghĩa thuỷ chung, cần cù sáng tạo, tinh thần quốc tế muốn làm bạn với nhân dân các nước...
Bàn về tính dân tộc trong văn học nghệ thuật, nhà nghiên cứu người Nga A.Tôn xtoi đã từng nhận định " Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất đai, trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ý nghĩa nghệ thuật..." Quan điểm đó rất đúng bởi vì tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhưng đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ, trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ. Và cũng chính đặc thù của đời sống dân tộc đã mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo được bảo tồn lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Trên đây Luật Minh Khuê đã giải đáp và phân tích cho bạn đọc xoay quanh chủ đề về dân tộc và biểu hiện của tính dân tộc trong văn học. Nếu bạn đọc có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề trên hoặc cần chúng tôi giải đáp những thắc mắc liên quan đến pháp luật, vui lòng liên hệ ngay đến tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí trực tuyến thông qua hotline 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp sớm nhất.