1. Nghĩa cụ cấp dưỡng là gì?

Cấp dưỡng là một trách nhiệm pháp lý mà một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của người khác không sống chung với mình, nhưng có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng được áp dụng trong các trường hợp như người đó chưa thành niên, người đã trưởng thành nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, hoặc người đang gặp khó khăn, túng thiếu.

Thường thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha mẹ và con, giữa vợ chồng, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa cô dì chú cậu bác ruột và cháu ruột. Đây là những quan hệ mà luật pháp đặt ra nghĩa vụ pháp lý cụ thể để đảm bảo sự chăm sóc và hỗ trợ cho những người có mối quan hệ này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng bất kỳ nghĩa vụ nào khác và không thể chuyển giao cho người khác. Điều này có nghĩa là người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế trách nhiệm này bằng cách yêu cầu người khác thay mình hoặc chuyển giao trách nhiệm này cho người khác.

Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng trốn tránh trách nhiệm của mình, theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014, tòa án có quyền buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.

Người được cấp dưỡng, bao gồm cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó. Ngoài ra, các cá nhân, cơ quan, tổ chức như người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và Hội liên hiệp phụ nữ cũng có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Nếu có bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, họ có quyền đề nghị cho cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, bao gồm người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và Hội liên hiệp phụ nữ, yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

 

2. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được định nghĩa là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Điều này ám chỉ đến tình huống một trong hai bên có liên kết với nước ngoài, có thể là người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam đang sinh sống và định cư tại nước ngoài.

Tuy nhiên, trong trường hợp quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên đều là công dân Việt Nam, nhưng quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ này sẽ tuân theo pháp luật nước ngoài, xuất phát từ nước ngoài hoặc liên quan đến tài sản ở nước ngoài. Điều này có nghĩa là trong trường hợp có yếu tố nước ngoài liên quan đến các quyết định liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình của công dân Việt Nam, áp dụng các quy định và quyền lực của pháp luật nước ngoài có liên quan.

Ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình là mục tiêu của pháp luật để đảm bảo sự công bằng và đồng lòng giữa các bên liên quan.

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam có các quyền và trách nhiệm tương tự như công dân Việt Nam, trừ khi có quy định khác trong pháp luật Việt Nam. Điều này đảm bảo rằng người nước ngoài có quyền hưởng đầy đủ các quyền lợi và đảm bảo đúng những trách nhiệm mà họ cần thực hiện trong quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam, theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Việc này đòi hỏi nhà nước tuân theo pháp luật Việt Nam, pháp luật của quốc gia nơi cư trú của người Việt Nam, cũng như pháp luật và tập quán quốc tế. Mục tiêu là đảm bảo rằng công dân Việt Nam ở nước ngoài có được sự bảo vệ và hỗ trợ từ nhà nước trong quan hệ hôn nhân và gia đình của họ, tuân thủ quy định của pháp luật và các quyền lợi được công nhận quốc tế

3. Nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật hiện hành

Theo Điều 129 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài như sau:

- Nghĩa vụ cấp dưỡng tuân theo pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú. Trường hợp người yêu cầu cấp dưỡng không có nơi cư trú tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng là công dân;

- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu cấp dưỡng của người quy định tại khoản 1 Điều 129 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là cơ quan của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú

Theo quy định tại Điều 129 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài sẽ tuân theo pháp luật của quốc gia nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú. Điều này có nghĩa là nếu người yêu cầu cấp dưỡng cư trú tại Việt Nam, việc cấp dưỡng sẽ được thực hiện theo pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết đơn yêu cầu cấp dưỡng.

Tuy nhiên, nếu có một người trực tiếp nuôi con và là người yêu cầu cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn đang cư trú ở nước ngoài, việc cấp dưỡng sẽ được thực hiện theo pháp luật của quốc gia nơi họ đang cư trú. Nếu họ cư trú tại Việt Nam, thì áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết vấn đề cấp dưỡng. Tuy nhiên, nếu họ không có nơi cư trú tại Việt Nam, thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà người đó là công dân để giải quyết vấn đề cấp dưỡng này.

 

4. Thẩm quyền giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 và Khoản 3 Điều 35 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết một số yêu cầu và tranh chấp như sau:

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về dân sự theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về kinh doanh, thương mại theo quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về lao động theo quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.

Ngoài ra, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 35 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, những tranh chấp và yêu cầu mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài hoặc cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 35 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.

Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, theo Điểm c Khoản 1 Điều 37 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, có thẩm quyền giải quyết thủ tục sơ thẩm các tranh chấp và yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Điều 37, tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, như được quy định trong Khoản 3 của Điều 35. Do đó, trong trường hợp có tranh chấp về cấp dưỡng mà có đương sự hoặc tài sản nằm ở nước ngoài, hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, hoặc cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trừ trường hợp công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Các bạn có thể tham khảo thêm các bài viết của Luật Minh Khuê tại đây: Nghĩa vụ cấp dưỡng là gì ? Mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Công ty Luật Minh Khuê xin gửi đến quý khách hàng những lời chào trân trọng và mong muốn cung cấp những thông tin tư vấn pháp luật hữu ích. Chúng tôi hiểu rằng việc hiểu rõ về vấn đề pháp lý và có câu trả lời cho những thắc mắc của quý khách hàng là rất quan trọng.

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, chúng tôi xin đề xuất hai phương pháp liên hệ sau đây để quý khách hàng có thể nhận được sự hỗ trợ nhanh chóng và chuyên nghiệp:

Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: Quý khách hàng có thể liên hệ với chúng tôi thông qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên viên tư vấn pháp luật của chúng tôi sẽ sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi câu hỏi, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật chính xác và đáng tin cậy cho quý khách hàng.

Gửi yêu cầu qua email: Quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết của mình qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẽ phản hồi và giải đáp thắc mắc của quý khách hàng trong thời gian sớm nhất. Vui lòng cung cấp đầy đủ thông tin và mô tả chi tiết vấn đề của quý khách hàng để chúng tôi có thể hỗ trợ một cách tốt nhất.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và tin tưởng của quý khách hàng. Công ty Luật Minh Khuê luôn cam kết đem đến sự tận tâm và chuyên nghiệp trong việc tư vấn và giải quyết các vấn đề pháp lý của quý khách hàng