Người vận chuyển hàng hóa phải thực hiện việc chuyên chở hàng hóa tới địa điểm và trong thời hạn đã thỏa thuận. Các hàng hóa tới nơi phải ở trong tình trạng nguyên lành.

1. Nguyên tắc về trách nhiệm đối với người vận chuyển hàng hóa

Người vận chuyển hàng đương nhiên phải chịu trách nhiệm về những mất mát hoặc thiệt hại đối với các hàng hóa từ khi nhận bốc lên cho đến khi chuyển giao xong.Coi như bất hợp pháp và vô hiệu mọi điều khoản trong hợp đồng có mục đích trực tiếp hay gián tiếp nhằm:
- Làm cho người vận chuyển hàng hóa trốn tránh khỏi trách nhiệm do luật quy định;
- Đảo ngược gánh nặng phải cung cấp chứng cứ của người vận chuyển hàng hóa;
- Hạn chế trách nhiệm của họ dưới mức pháp lệnh quy định;
- Hoặc còn nhường lại cho người vận chuyển hàng hóa quyền hưởng thụ phần trả bảo hiểm hàng hóa.
Tuy vậy, cũng được phép có những điều khoản trong hợp đồng về trách nhiệm hay về đền bù;
- Trong việc chuyên chở súc vật sống; 
- Trong việc chuyên chở hàng hóa trên boong theo thỏa thuận của người giao hàng.

2. Những trường hợp ngoại lệ đối với người vận chuyển hàng hóa

Người vận chuyển hàng hóa có thể yêu cầu được hưởng những nguyên nhân luật định cho phép họ được miễn trừ trách nhiệm. Đó là những trường hợp "ngoại lệ", nhưng họ phải chứng minh về các trưòng hợp đó.
Luật liệt kê các trường hợp này như sau:
- Tầu không đủ khả năng đi biển. Muốn được miễn trách nhiệm của mình trong trường hợp này, người vận chuyển phải chứng minh tình trạng tầu không đủ khả năng đi biển và mối quan hệ nhận qủa giữa tình trạng đó với những mất mát hay thiệt hại về hàng hóa. Ngoài ra còn phái chứng minh họ đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo luật định, nghĩa là họ đã làm cho con tầu ở trong tình trạng có đủ khả năng đi biển, đã trang thiết bị và cung ứng đầy đủ, đã điều chỉnh thích hợp và cải tiến thật tốt các bộ phận của con tầu dùng để chứa những hàng hóa được bốc xếp.
- Lỗi hàng hải Luật đề cập tới lỗi hàng hải trong việc vận hành đường biển của thuyền trưởng, của hoa tiêu hay của những người làm công tác khác, của người chuyên chở
- Hỏa hoạn, Hỏa hoạn miễn trừ trách nhiệm cho người chuyên chở nếu không rõ nguyên nhân, trừ phi đó chính là lỗi của họ gây ra. 
- Những sự kiện gây ra tai nạn không thể quy cho người vận chuyển. Không cần thiết các sự kiện đó tạo ra một trường hợp ngẫu nhiên hay một trường hợp bất khả kháng;
- Đình công, cấm xưởng, đình chỉ hay cản trở lao động một phần hay toàn bộ bất cứ lý do gì.
- Hàng xấu, hay hao hụt trong chuyên chở trong phạm vi được châm chước theo thông lệ của nơi cảng đích.
- Các lỗi của người giao hàng. về mặt này, có thể nêu lên các thiếu sót về bao bì, đóng gói hoặc về ký mã hiệu các hàng hóa.
- Những khuyết tật ẩn dấu của con tầu không phát hiện được mặc dù đã có kiểm tra gắt gao.
- Cứu hộ những người bị nạn hay các tài sản trên biển. Được miễn trách nhiệm cứu hộ hoặc việc tìm cách cứu hộ người bị nạn hay tài sản trên biển cũng như qúa trình hoạt động theo đuổi mục đích đó.
Như vậy người gửi hàng không thể đòi hỏi bồi thường vì hàng giao chậm, nếu sự giao chậm ấy là do phải tiến hành công tác cứu hộ tai nạn.
Tuy vậy, khi người vận chuyển chứng minh họ ở một trong những trường hợp miễn trừ ngoại lệ, người giao hàng vẫn có thể đưa ra những bằng chứng để xác định rằng những mất mát hay thiệt hại về hàng hóa, một phần hay toàn bộ là do lỗi của người vận chuyển hay của những người làm công của họ, không kể lỗi hàng hải.
Mặt khác, người vận chuyển cũng không chịu bất cứ một trách nhiệm nào đối với những mất mát hay thiệt hại về hàng hóa mà người giao hàng đã làm một tờ khai với chủ tâm gian dối liên quan đến bản chất hoặc đến giá trị của những hàng hóa ấy.

3. Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa

Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được hướng dẫn tại Điều 152 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2017), theo đó:

1. Trong trường hợp tính chất, giá trị của hàng hóa không được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng hoặc không được ghi rõ trong vận đơn, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác thì người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hóa trong giới hạn tối đa tương đương với 666,67 đơn vị tính toán cho mỗi kiện hoặc cho mỗi đơn vị hàng hóa hoặc 02 đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị mất mát, hư hỏng tùy theo giá trị nào cao hơn.

Đơn vị tính toán quy định trong Bộ luật này là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt.

Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán bồi thường.

2. Khi container hoặc công cụ tương tự được dùng để đóng hàng hóa thì mỗi kiện hoặc đơn vị hàng hóa đã ghi trong chứng từ vận chuyển, đã đóng vào công cụ được coi là một kiện hoặc 01 đơn vị hàng hóa quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp chứng từ vận chuyển không ghi rõ số kiện hoặc đơn vị hàng hóa thì container hoặc công cụ đó chỉ được xem là 01 kiện hoặc 01 đơn vị hàng hóa.

3. Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng hóa được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được người vận chuyển chấp nhận, ghi vào chứng từ vận chuyển thì người vận chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:

a) Đối với hàng hóa bị mất mát thì bồi thường bằng giá trị đã khai báo;

b) Đối với hàng hóa bị hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại của hàng hóa.

Giá trị còn lại của hàng hóa được xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm và địa điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được thì căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng trả hàng.

4. Trách nhiệm của người vận chuyển đối với việc chậm trả hàng được giới hạn số tiền bằng hai phẩy năm lần giá dịch vụ vận chuyển của số hàng trả chậm, nhưng không vượt quá tổng số giá dịch vụ vận chuyển phải trả theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

 

4. Thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm

Người vận chuyển khi nhận bốc hàng lên tầu bao giờ cũng có quyền đòi hỏi phải có một sự kiểm tra với sự có mặt  của đôi bên về tình trạng hàng hóa. 

Mặt khác, để có thể đòi hỏi đối với những thiệt hại hàng hóa, người tiếp nhận hàng phải nộp thư dự kháng gửi đến các nơi quy định

- Nếu những mất mát hay thiệt hại đã rõ ràng, người nhận hàng phải gửi thư dự kháng cho người vận chuyển, chậm nhất là vào lúc giao hàng, nếu không  hàng hóa sẽ được suy đoán là đã được tiếp nhận như đã ghi ở trọng vận đơn, trừ phi chứng minh ngược lại.
- Nếu những thiệt hại không rõ rệt, việc gửi thư dự kháng có thể được phép tiến hành trong ba ngày sau khi giao hàng, không kể những ngày nghỉ
Thời hiệu khiếu nại đối với người vận chuyển: Một khi đã có thư dự kháng, người giao hàng có một thời hạn nhất định để tiến hành khỏi kiện đối với người vận chuyển nếu người này không thỏa thuận chi trả khoản bồi thường.
Thời hiệu khỏi kiện đôi bồi thường thiệt hại đối với người vận chuyển là một năm, kể từ ngày các hàng hóa đã được trả hay tặng cho người nhận hàng; trong trường hợp mất toàn bộ, thì kể từ ngày lẽ ra đã phải trả hàng. Thời hạn này cũng là thời hạn khi chỉ có sự chậm trễ trong vận chuyển, mặc dù luật không chỉ dẫn một cách rõ ràng.

5.  Nghĩa vụ của người giao hàng

5.1. Trả tiền cước vận chuyển.

Tiền cước vận chuyển là giá tiền thuê vận chuyển hàng hóa do hợp đồng giữa đôi bên ấn định.
Về nguyên tắc, chỉ riêng người giao hàng chịu trách nhiệm chi trả; tuy nhiên, nếu quy định tiền cước vận chuyển sẽ được chi trả ở nơi nhận thì người nhận hàng cũng có trách nhiệm chi trả nếu họ chấp nhận việc trả hàng.
Đối với hàng hóa bị mất mát hay bị hư hỏng "do tai họa trên biển", nghĩa là không do lỗi của người chuyên chở thì không phải trả tiền cước, nhưng phải trả tiền cước đối với những hàng hóa vứt xuống biển để cứu nguy chung (pour le salut commun) vì người gửi hàng cũng phải đóng góp phần mình vào cái gọi là "tổn thất chung".
Nếu có sự tranh chấp về việc chi trả tiền cước, thì thuyền trưởng không có quyền giữ lại hàng hóa nhưng có thể yêu cầu tòa án cho phép bán một phần hàng hóa để chi trả cước vận chuyển (nếu người nhận hàng không chịu đứng bảo lãnh) và ra lệnh ký gửi vào kho phần còn lại về việc chi trả tiền cước vận chuyển, thuyền trưởng có một đặc quyền đối với các hàng hóa chuyên chở trong thời gian 15 ngày kể từ ngày trả hàng, nếu trong thời gian này những hàng hóa trên chưa được chuyển sang tay những người khác. Đặc quyền này vẫn có hiệu lực kể cả trong trường hợp người giao hàng đang lâm vào tình trạng thanh lý tư pháp.

5.2. Những tổn thất gây ra cho tàu.

Người giao hàng chịu trách nhiệm về những tổn thất gây ra cho tàu hay cho các hàng hóa khác do chất lượng thấp hay khuyết tật của chính hàng hóa.Người giao hàng cũng chịu trách nhiệm như trên đối với những hàng hóa có chất nổ, chất cháy hay chất nguy hiểm khác mà người vận chuyển hay đại diện của họ nếu được biết tính chất của những hàng hóa ấy sẽ không cho bốc lên tàu.
Khi người giao hàng vắng mặt, nghĩa là không giao các hàng hóa vận chuyển đúng địa điểm và thời điểm quy định , trong hợp đồng giữa các bên hay theo tập tục của cảng bốc xếp, người đó phải trả cho người vận chuyển một khoản bồi thường tối đa là bằng mức giá cước vận chuyển; nhưng nếu thiệt hại gây ra cho mọi người vận chuyển ít hơn thì tiền bồi thưồng cũng sẽ thấp hơn.
Thời hiệu khỏi kiện đối với người giao hàng hay đối với người nhận hàng là một năm, kể từ ngày quy định phải trả hàng.
Thời hạn này được áp dụng nhất là đối với các vụ kiện đòi chi trả cước vận chuyển hay đòi bồi thường các thiệt hại do các hàng hóa vận chuyển gây ra cho tầu về các tòa án có thẩm quyền: dù đó là bên giao hàng kiện bên vận chuyển , hay bên vận chuyển kiện bên giao hàng, thì tòa án có thẩm quyền vẫn là các tòa án thường. Do đó, nếu người giao hàng chỉ là dân thường họ có quyền chọn giữa Tòa án thương mại và Tòa án sơ thẩm; nếu người giao hàng là một thương nhân, như người vận chuyển (người này bao giờ cũng được coi như một thương nhân) thì Tòa án thương mại phải thụ lý.Về thẩm quyền theo lãnh thổ: ngoài những tòa án có thẩm quyền thường lệ (tòa án nơi cư trú của bên bị đơn, tòa án nơi hợp đồng đã được ký kết và thực hiện, tòa án nơi việc chi trả lẽ ra phải được tiến hành), luật còn ấn định có thể khởi kiện trước tòa án nơi cảng bốc hàng, hoặc nơi dỡ hàng, nếu các nơi đó đều ở trên lãnh thổ Pháp 

 Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật tư vấn pháp luật