1. Hiểu thế nào về nghịch lý của tiết kiệm?
Trước giờ trong xã hội, chúng ta luôn đề cao những phẩm giá tốt đẹp cũng như là lợi ích của việc tiết kiệm. Tiết kiệm là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định. Đối với việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên ở những lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì tiết kiệm là việc sử dụng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt cao hơn mục tiêu đã định.
Tuy nhiên liệu chúng ta đã từng đặt ra một giả thiết khác hay chưa? Nếu tất cả mọi người trong xã hội này đều thực hiện tốt đức tính tiết kiệm thậm chí là rất tốt, tiết kiệm quá mức, thì lúc này điều gì sẽ xảy ra? Khi đó chúng ta có Nghịch lý của tiết kiệm (Paradox of Thrift). Vậy nghịch lý này là gì?
Nghịch lí tiết kiệm (tiếng Anh: Paradox of Thrift) là một thuật ngữ kinh tế nói về sự mâu thuẫn giữa bản chất tốt đẹp của tiết kiệm và những hậu quả không mong muốn của nó. Nếu các hộ gia đình muốn tiết kiệm nhiều hơn thì tổng mức chi tiêu hay tổng cầu của nền kinh tế sẽ giảm dẫn đến sản lượng và việc làm giảm. Khi mọi người cùng tiết kiệm, chi tiêu giảm và doanh số kinh doanh sụt giảm, dẫn đến tăng thêm sự suy thoái kinh tế. Trong nghịch lý này, việc tiết kiệm của cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể dẫn đến kết quả ngược lại, đó là toàn bộ nền kinh tế suy thoái. Nói cách khác, việc tiết kiệm của một số người có thể góp phần vào việc giảm sự tiêu dùng và đẩy nền kinh tế vào suy thoái.
2. Nghịch lý của tiết kiệm nói gì?
Lí thuyết nghịch lý của tiết kiệm dựa trên giả định rằng giá cả không rõ ràng hoặc các nhà sản xuất không điều chỉnh theo các điều kiện thay đổi, trái với kì vọng của kinh tế học vi mô cổ điển. Nghịch lí tiết kiệm đã được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes.
Nghịch lý của tiết kiệm là hiện tượng khi mọi người cùng tiết kiệm và tăng tỷ lệ lưu trữ tiền của họ, thì tổng chi tiêu toàn cầu giảm đi, dẫn đến suy thoái kinh tế và giảm thu nhập. Như vậy, việc tiết kiệm có thể dẫn đến tình trạng kinh tế kém phát triển hơn và giảm cơ hội tiết kiệm của mỗi cá nhân. Điều này phản đối quan điểm truyền thống rằng tiết kiệm là điều tốt và cần thiết cho một nền kinh tế phát triển.
Và tất yếu sẽ dẫn đến giảm chi tiêu và tăng mức thất nghiệp. Khi người tiêu dùng tiết kiệm nhiều hơn, các doanh nghiệp cũng sẽ bán được ít hàng hóa hơn, dẫn đến giảm doanh thu và lợi nhuận. Do đó, các doanh nghiệp sẽ giảm đầu tư và tăng mức thất nghiệp. Ngoài ra, khi người tiêu dùng tiết kiệm nhiều hơn, tỷ lệ tiền gửi trong ngân hàng cũng tăng lên, và ngân hàng sẽ phải cắt giảm cho vay, làm khó khăn hơn cho các doanh.
Khi xã hội muốn tiết kiệm nhiều hơn, ảnh hưởng thực sự không chỉ làm cho thu nhập giảm, mà ngay cả tiết kiệm cũng giảm. Sản lượng thực tế có thể giảm tới mức mọi người chỉ muốn tiết kiệm bằng mức đầu tư dự kiến.
3. Nguyên nhân dẫn đến nghịch lý của tiết kiệm?
Trong nền kinh tế ít nguồn lực, mong muốn tiêu dùng ít đi tại mỗi mức thu nhập sẽ làm cho đường tiết kiệm chuyển dịch lên phía trên. Với đầu tư có được, điểm cân bằng mới sẽ dịch xuống vì: khi tiết kiệm dự kiến cao hơn thu nhập dự kiến, thu nhập phải giảm đi - và giảm theo cấp số nhân cho tới khi mọi người nhận ra rằng họ đã nghèo đi và chỉ muốn tiết kiệm bằng đầu tư dự kiến. Theo công thức tính sản lượng cân bằng:
Y = (C + Ī )/ MPS
Nếu tiêu dùng giảm đi một lượng là ΔC, vì nền kinh tế là khép kín nên tiết kiệm tăng lên một lượng là ΔS. Sản lượng thay đổi sẽ được xác định như sau:
ΔY = -ΔS/MPS
Điều này hoàn toàn ứng với dịch chuyển đường S lên trên và mức sản lượng giảm.
Cách nào để gỡ nghịch lí này: có hai điều giúp ta làm rõ thêm vấn đề này
Một là, trong kinh tế học chúng ta luôn luôn đề phòng cái gọi là ngụy biện khái quát.
Ngụy biện khái quát có nghĩa là một việc tốt cho một cá nhân không có nghĩa là nó sẽ luôn luôn tốt cho tất cả mọi người. Trong một số trường hợp sự khôn ngoan của cá nhân lại là sự ngu xuẩn đối với xã hội. Ngụy biện khái quát được định nghĩa là sự nhận thức sai lầm khi cho rằng, cái gì tốt cho một bộ phận cũng sẽ tốt cho cả tổng thể.
Ý nghĩa của ngụy biện khái quát đối với câu hỏi hiện tại về tiết kiệm có nghĩa là: nếu tất cả mọi người đều cố gắng tăng tiết kiệm thì tổng tiết kiệm thực có sẽ không tăng lên chút nào. Chữ "cố gắng" và "thực có" ở đây có nghĩa, nó nhắc lại cho chúng ta rằng, khi mọi người muốn tăng tiết kiệm thì kết quả thực tế là mức sản lượng sẽ thấp đi và tiết kiệm không tăng lên chút nào.
Hai là, cần xét tình trạng nền kinh tế đang trong thời kì suy thoái hay toàn dụng lao động
Nếu ở thời kì toàn dụng lao động, phần sản lượng càng dành để tiết kiệm nhiều thì càng có nhiều để đầu tư và tích lũy vốn. Vì vậy tiết kiệm nhiều là điều tốt ở góc độ cá nhân và toàn xã hội. Chỉ khi mức sản lượng có nguy cơ thấp hơn so với mức toàn dụng lao động chúng ta mới quan tâm nhiều tới khả năng nghịch lí là khi đó các cá nhân tiêt kiệm quá nhiều có thể làm tổn hại đến xã hội làm giảm sản lượng, việc làm.
Nghịch lí tiết kiệm trở thành thế lưỡng nan thực sự khi nền kinh tế có mức thâm hụt ngân sách Nhà nước lớn, có nghĩa là tiết kiệm xã hội âm. Nhiều người tin rằng, xã hội cần tăng tỉ lệ tiết kiệm bằng cách tăng các động cơ khuyến khích tiết kiệm và tăng tiết kiệm của Chính phủ bằng cách giảm thâm hụt ngân sách nhà nước. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng tiết kiệm quốc gia là cần thiết để tăng mức đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế .
Một số khác cho rằng trong thời kì suy thoái, cố gắng tăng tiết kiệm sẽ làm giảm sản lượng và công ăn việc làm, kết cục là giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Có thể thấy, tiết kiệm có lợi cho nền kinh tế vì nó giải phóng nguồn lực từ các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và chuyển sang cho các ngành sản xuất hàng đầu tư, dẫn tới tốc độ tăng trưởng và mức sống cao hơn. Nhưng nếu các hộ gia đình tìm cách tiết kiệm nhiều hơn kế hoạch hay nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp, thì các khoản rút ra sẽ lớn hơn các khoản bơm vào vòng chu chuyển của thu nhập quốc dân và đây là nguyên nhân làm cho mức sản lượng và thu nhập cân bằng giảm. Khi sản lượng cân bằng giảm, sản lượng thực hiện của nền kinh tế cũng giảm theo, vì các doanh nghiệp cắt giảm sản xuất để giữ cho hàng tồn kho ở mức mong muốn.
Như vậy, trên đây là toàn bộ thông tin về do Nghịch lí tiết kiệm (Paradox of Thrift) là gì? Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!