Thưa luật sư, em là Hoàng Mạnh, là sinh viên trường ngân hàng. Hiện em đang nghiên cứu về tiền gửi tiết kiệm trong hoạt động ngân hàng. Xin luật sư hãy phân tích giúp em pháp luật về tiền gửi tiết kiệm qua các thời kỳ?

Em xin cảm ơn ạ! (Hoàng Mạnh – Hà Nội)

 

Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý về gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm 2017)

- Thông tư 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành

- Thông tư 49/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành

 

2. Lịch sử về tiền gửi tiết kiệm

Huy động tiết kiệm là một hoạt động đặc biệt quan trọng từ ngày hình thành hệ thống tài chính, ngân hàng cho đến nay.

Năm 1946 đã có những quy định đầu tiên đề cập Quỹ tiết kiệm. Đó là quy định về nhiệm vụ của “Phòng Tệ chế, ngân khố, công thải, ngân hàng” thuộc Bộ Tài chính

Năm 1959, thành lập Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa vối quy định như sau: “Nay thành lập quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích thu hút những món tiền tiết kiệm hoặc tạm thời chưa dùng tới của nhân dân lao động thành thị và nông thôn để sử dụng hợp lý vào việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ỗ miền Bắc”. Tuy nhiên, trước đó, đã ban hành “Thể lệ gửi tiền vào Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa”

Ngày ấy, đối tượng gửi tiền vào Quỹ tiết kiệm là cá nhân cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội, học sinh và các tầng lớp nhân dân lao động khác (kể cả cán bộ, nhân viên của các cơ quan ngoại giao các nưổc đóng ỏ Việt Nam và các tầng lớp lao động ngoại kiều hiện ở Việt Nam. Như vậy, khi đó người gửi tiền tiết kiệm gồm cả ngưòi nước ngoài là rộng hơn sau đó chỉ gồm công dân Việt Nam.

Khi đó đã có nhiều loại thể thức gửi tiền tiết kiệm. Ngoài các thể thức như hiện hành, còn có thêm các hình thức: gửi lẻ lấy gọn, theo phiếu định mức kiêm cho vay; gửi lẻ lấy gọn, theo phiếu định mức, thưởng hiện vật; gửi gọn lấy gọn, theo phiếu định mức, ưu đãi lợi suất; gửi lẻ lấy gọn theo định mức, xây dựng nhà ở.

Từ năm 1959, pháp luật sử dụng hai cụm từ khác nhau là “Thẻ tiết kiệm” và “Sổ tiết kiệm” cho các thể thức gửi tiền tiết kiệm khác nhau. Từ năm 2004, chỉ sử dụng chung cụm từ “Thẻ tiết kiệm”. Từ năm 2019, lại quay lại sử dụng hai cụm từ “Thẻ tiết kiệm” hoặc “Sổ tiết kiệm”.

Vào những năm 1960, một trong các nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban hành chính tỉnh và thành phô' trực thuộc trung ương là “lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã vay mượn, quỹ tiết kiệm, quỹ tín dụng”.

Một trong các nhiệm vụ và quyền hạn của các ủy ban hành chính thành phố thuộc tỉnh và thị xã là “lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã vay mượn, quỹ tiết kiệm”.

Một trong các nhiệm vụ và quyền hạn của các ủy ban hành chính khu phố là “lãnh đạo việc củng cố và phát triển quỹ tiết kiệm”.

Nâm 1972, hệ thông tổ chức Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập từ trung ương đến cơ sỏ gồm: Cục tiết kiệm ỏ trung ương; chi cục tiết kiệm ỏ tỉnh, thành phô' trực thuộc trung ương, quỹ tiết kiệm huyện, thị xã, thành phô' thuộc tỉnh, khu phô'; quỹ tiết kiệm cơ sở, ủy nhiệm tiết kiệm hoặc đại lý tiết kiệm ỏ cấp xã, đường phố, nghiệp, cơ quan Nhà nước.

Ngoài chức năng, nhiệm vụ chính là chuyên trách huy động tiền tiết kiệm của nhân dân, Quỹ tiết kiệm đồng thời kiêm nhiệm một sô' việc gồm: mỏ tài khoản tiền gửi cho tư nhân; được ủy nhiệm thu và trả tiền cho các tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước; cho vay sinh hoạt đô'i với cán bộ, công nhân, viên chức.

Thời kỳ đó, gửi tiền tiết kiệm gần như là duy nhất, vì cá nhân thì chỉ có hình thức gửi tiết kiệm, còn các pháp nhân khi đó được cho vay theo nhu cầu sử dụng vốn, thừa tiền thì nộp vào ngân hàng, chứ không có việc gửi lấy lãi là mục tiêu chính.

Những năm 1980 trở về trước, nhiều thể lệ gửi tiền và lãi suất tiền gửi tiết kiệm do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quy định.

Năm 1985, khi Nhà nước tiến hành việc đổi tiền thì tiền gửi tiết kiệm trước ngày 01/3/1978 cho đến sau ngày 31/7/1985 được quy đổi theo các tỷ lệ khác nhau, từ 1 đến 10 đồng cũ bằng 1 đồng mới. Đây không phải là chính sách ưu đãi cho người gửi tiền tiết kiệm, mà là việc tính toán lại giá trị của đồng tiền gửi bị lạm phát mất giá qua thời gian.

Năm 1986, Chính phủ “Cho phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thể thức tiết kiệm có bảo hiểm giá trị tiền gửi bằng một số mặt hàng tính theo giá bán lẻ kinh doanh thương nghiệp”.

Năm 1998 hình thành hệ thống tiết kiệm bưu điện do Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam tổ chức huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư để bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển.

Năm 2016 hệ thông tiết kiệm bưu điện đã chuyển sang góp vốn để trỏ thành hệ thống phòng giao dịch bưu điện trực thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt. Tuy nhiên, đến năm 2018 vẫn còn quyết định ghi nhân “công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện” và “hoạt động của ngân hàng tiết kiệm bưu điện”.

Từ năm 2017 trở đi, về cơ bản chế độ tiền gửi tiết kiệm cũng giống với tiền gửi khác của cá nhân để lấy lãi tại ngân hàng về mục đích, lãi suất, bảo hiểm.

 

3. Pháp luật về tiền gửi tiết kiệm

“Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng”. “Giao dịch tiền gửi tiết kiệm bao gồm giao dịch nhận, gửi tiền gửi tiết kiệm; chi trả, rút tiền gửi tiết kiệm; sử dụng tiền gửi tiết kiệm làm tài sản bảo đảm và chuyển giao quyền số hữu tiền gửi tiết kiệm”.

 

3.1. Đối tượng gửi tiết kiệm

Việc gửi tiền tiết kiệm bằng đồng Việt Nam chỉ dành cho công dân Việt Nam không dành cho người nước ngoài. Riêng việc gửi tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ thì chỉ dành công dân Việt Nam là người cư trú, mà không dành cho công dân Việt Nam là người không cư trú. Như vậy, công dân Việt Nam không phải là người cư trú thường xuyên ở Việt Nam (Việt kiều định cư ở nước ngoài) và người nước ngoài, dù có cư trú tại Việt Nam, cũng không được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ.

 

3.2. Nội dung thẻ tiết kiệm

Thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm là chứng chỉ xác nhận quyển sở hữu tiền gửi tiết kiệm của ngưòi gửi tiền tại tổ chức tín dụng, được áp dụng đối với trường hợp nhận tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch hợp pháp thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng

Thẻ tiết kiệm phải có tối thiểu các nội dung sau đây.

Thứ nhất, tên tổ chức tín dụng, con dấu; họ tên, chữ ký của giao dịch viên và của người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng;

Thứ hai, họ tên, số và ngày cấp giấy tò xác minh thông tin của người gửi tiền;

Thứ ba, số Thẻ tiết kiệm; số tiền; đồng tiền; ngày gửi tiền; ngày đến hạn (đối với tiền gửi có kỳ hạn); thời hạn gửi tiền; lãi suất; phương thức trả lãi;

Thứ tư, biện pháp để người gửi tiền tra cứu khoản tiền gửi tiết kiệm;

Thứ năm, xử lý đối vối trường hợp nhàu nát, rách, mất Thẻ tiết kiệm;

Ngoài các nội dung trên, Thẻ tiết kiệm có thể có các nội dung khác theo quy định của tổ chức tín dụng.

 

3.3. Quy định mới về tiền gửi tiết kiệm

Trước năm 2019 pháp luật quy định “chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm” là không chính xác. Vì chủ sở hữu tiền gửi có thể là người khác theo các quy định của pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình.

Từ năm 2019, pháp luật ngân hàng quy định, “tiền gửi tiết kiệm được sử dụng để làm tài sản bảo đảm”, khác với quy định “thẻ tiết kiệm được sử dụng làm tài sản cầm cố tại các tổ chức tín dụng” trước kia ở những điểm sau:

Thứ nhất, việc quy định tài sản bảo đảm là “tiền gửi tiết kiệm” chính xác hơn “thẻ tiết kiệm”, vì thẻ tiết kiệm không phải là giấy tờ có giá mà chỉ “là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền”. Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng, tài sản bảo đảm trong trường hợp này phải là quyền tài sản, cụ thể là quyền được rút tiền hay quyền đòi nợ (đã cho ngân hàng vay);

Thứ hai, việc quy định tiền gửi tiết kiệm được “sử dụng để làm tài sản bảo đảm” là rộng hơn việc “sử dụng để làm tài sản cầm cố’’, vì theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì tài sản này sẽ được sử dụng để thực hiện các giao dịch bảo đảm khác như đặt cọc, ký cược, ký quỹ;

Thứ ba, việc không quy định bảo đảm “tại các tổ chức tín dụng” cũng là rộng hơn trước kia. Khi đã xác định là tài sản bảo đảm thì có thể bảo đảm cho cá nhân, pháp nhân khác, chứ không chỉ bảo đảm tại các tổ chức tín dụng.

 

3.4. Trách nhiệm của tổ chức tín dụng nhận tiền gửi tiết kiệm

Pháp luật quy định một số trách nhiệm của tổ chức tín dụng nhận tiền gửi tiết kiệm như sau:

Thú nhất, hướng dẫn người gửi tiền thực hiện giao dịch chuyển giao quyền sỏ hữu tiền gửi tiết kiệm phù hợp với các quy định của pháp luật. Tiền gửi tiết kiệm khi đã gửi vào ngân hàng thì đã thuộc sở hữu của ngân hàng. Do vậy, chính xác hơn thì trong trường hợp này là việc chuyển giao quyền rút tiền tại ngân hàng;

Thứ hai, hướng dẫn việc xử lý đối với trường hợp nhàu nát, rách, mất Thẻ tiết kiệm và các trường hợp rủi ro khác (như mờ, nhoè, hư hỏng) đối với tiền gửi tiết kiệm.

Thứ ba, thực hiện việc nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch hợp pháp thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm bằng phương tiện điện tử.

Như vậy, quy định trên có thể hiểu là không được nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm ngoài trụ sở hoặc địa điểm giao dịch khác của tổ chức tín dụng, tức là không được giao dịch tại nhà hay địa chỉ khác của khách hàng;

Thứ tư, phải niêm yết công khai tại địa điểm giao dịch, đăng tải trên trang thông tin điện tử (nếu có) của tổ chức tín dụng tôi thiểu các nội dung sau và phải thực hiện đúng các nội dung này:

  • Lãi suất tiền gửi tiết kiệm; mức phí (nếu có);
  • Loại ngoại tệ nhận tiền gửi tiết kiệm;
  • Thủ tục giao dịch tiền gửi tiết kiệm giữa tổ chức tín dụng và người gửi tiền;
  • Quy định về từng hình thức tiền gửi tiết kiệm;
  • Biện pháp để người gửi tiền tra cứu khoản tiền gửi tiết kiệm;
  • Xử lý đốỉ với trường hợp nhàu nát, rách, mất Thẻ tiết kiệm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!