1. Người có công được ghi nợ tiền SDĐ trong bao lâu?
Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Nghị định 45/2014/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 1 Nghị định 79/2019/NĐ-CP quy định về ghi nợ tiền sử dụng đất cụ thể như sau:
- Người có công với cách mạng; hộ nghèo; hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số; hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại địa bàn cấp xã được công nhận là địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) được ghi nợ tiền sử dụng đất trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không phải nộp tiền chậm nộp trong thời hạn 05 năm này.
- Trường hợp sau 05 năm kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà hộ gia đình, cá nhân chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận) thì hộ gia đình, cá nhân phải nộp đủ số tiền sử dụng đất còn nợ và tiền chậm nộp tính trên số tiền còn nợ theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế từ thời điểm hết thời hạn 05 năm được ghi nợ tới thời điểm trả nợ.
Như vậy, người có công với cách mạng được ghi nợ tiền sử dụng đất trong thời hạn 05 năm đối với trường hợp được giao đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Việc trả nợ dần tiền sử dụng đất được thực hiện trong thời gian 05 năm kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không phải nộp tiền chậm nộp trong thời hạn 05 năm này.
2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ tiền sử dụng đất của doanh nghiệp
Nợ tiền sử dụng đất của các dự án bất động sản xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Hệ quả của thời kỳ thị trường bất động sản đóng băng kéo dài nhiều năm và hàng tồn kho bất động sản là quá lớn. Không bán được hàng, không thu hồi được vốn dẫn đến không có tiền để thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
- Cách tính tiền sử dụng đất của Nhà nước vẫn có những bất cập làm khó doanh nghiệp. Ví dụ: Những khu vực trong dự án có chức năng kinh doanh cho thuê, phải khai thác thu tiền trong nhiều năm. Nhưng cách tính của cơ quan thuế là gộp doanh thu luôn của nhiều năm đó và buộc doanh nghiệp phải nộp luôn một lần. Như vậy, doanh nghiệp phải ứng trước tiền thuế cho nhiều năm của tương lai. Điều này rất khó cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Có một bộ phận doanh nghiệp thiếu ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ. Mặc dù đã giải tỏa, bán hết sản phẩm dự án nhưng cố tình không nộp.
- Doanh nghiệp thực hiện dự án có sử dụng đất ở Việt Nam hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp. Do vậy luật Nhà nước cũng chỉ quy định cho họ đảm bảo nguồn vốn đủ 15% tổng mức đầu tư dự án là có thể giao cho họ làm chủ đầu tư thực hiện dự án. Số tiền này tôi đảm bảo có những doanh nghiệp không đủ thực hiện giải phóng mặt bằng. Còn nhiều chi phí thủ tục khác của dự án nên họ rất khó có tiền để nộp trước tiền sử dụng đất cho Nhà nước mà chỉ trông đợi vào huy động vốn.
Và khi huy động được vốn, có doanh nghiệp ý thức đúng về trách nhiệm của mình, nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước. Nhưng cũng có doanh nghiệp lại tận dụng vốn để đầu tư dự án khác mà dự án khác gặp phải rủi ro, dẫn đến rủi ro luôn cho cả dự án đã huy động được vốn. Tình trạng này xảy ra khá nhiều, làm doanh nghiệp lẫn khách hàng của doanh nghiệp lâm vào cảnh khó khăn.
3. Quá hạn nộp tiền sử dụng đất, trách nhiệm thuộc về ai?
Theo quy định pháp luật, người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình sử dụng đất. Tuy nhiên thời gian qua, nhiều người sử dụng đất gần như không biết mình sẽ nộp thuế đất ở đâu, khi nào, nếu không nộp thì sẽ bị chế tài gì…
Có rất nhiều trường hợp bị từ chối hoàn thuế thu nhập cá nhân bị từ chối vì cơ quan thuế xác định nợ thuế đất. Nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất là một trong những nghĩa vụ mà người sử dụng đất cần thực hiện trong quá trình sử dụng đất. Đối với đất ở, người sử dụng đất cần thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hằng năm theo quy định.
Tuy nhiên, rất nhiều hộ gia đình, cá nhân, nhất là những hộ sử dụng đất phi nông nghiệp ít khi quan tâm đến việc đóng thuế này vì nhiều lý do, mà theo nhiều người là không nghe địa phương yêu cầu. Trong khi theo quy định, tất cả đất không phục vụ cho mục đích nông nghiệp đều nằm trong diện chịu thuế nhà đất. Các đối tượng chịu thuế nhà đất gồm đất nằm trong khu dân cư ở thành thị và nông thôn, kể cả đất chưa xây nhà ở nhưng đã được cấp giấy phép, vẫn phải đóng thuế nhà đất.
Hằng năm, người nộp thuế phải nộp thuế nhà đất vào 2 kỳ, chậm nhất vào ngày 30/5 đối với kỳ đầu tiên và 30/10 đối với kỳ thứ hai. Người nộp thuế có thể nộp hai lần trong một năm hoặc nộp một lần cho cả năm vào kỳ nộp thuế đầu tiên.
Cụ thể, người nộp thuế (người có quyền sử dụng đất) phải nộp hồ sơ tại Chi cục Thuế quận, huyện nơi có nhà đất. Hồ sơ khai nộp thuế phi nông nghiệp gồm tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho từng thửa đất chịu thuế; bản chụp các giấy tờ liên quan đến thửa đất; giấy tờ chứng minh miễn, giảm (nếu có). Người nộp thuế sẽ phải nộp tiền thuế theo thông báo của cơ quan thuế và phải nộp trong thời hạn được xác định. Đơn cử như với hộ gia đình, cá nhân, trường hợp nộp tiền thuế hằng năm, chậm nhất là ngày 30/9, cơ quan thuế sẽ tính, lập thông báo nộp thuế. Cơ quan thuế có trách nhiệm gửi thông báo này tới người nộp thuế. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, người nộp thuế có quyền phản hồi, nếu không có ý kiến phản hồi thì phải nộp đúng với số thuế đã ghi trên thông báo. Vì vậy trong trường hợp này trách nhiệm sẽ thuộc về cả hai phía là người dân và cơ quan thuế.
Điều mà nhiều hộ gia đình, cá nhân thắc mắc là nhiều năm nay, họ không nhận bất kỳ thông báo tính thuế gửi đến mình, nên không thể biết số tiền thuế phải nộp hằng năm như thế nào? Chỉ đến khi có việc cần liên hệ đến cơ quan thuế, mới biết đã nợ thuế quyền sử dụng đất, thậm chí còn bị phạt vì nợ quá hạn.
Một vấn đề nữa mà nhiều người rơi vào tình trạng này cho biết, họ hoàn toàn không được chính quyền địa phương hay cơ quan thuế tuyên truyền, hướng dẫn về thủ tục để kê khai nộp thuế quyền sử dụng đất theo quy định. Tình trạng này không chỉ gây khó cho người dân mà còn gây thất thoát về nguồn thu đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho ngân sách nhà nước thời gian qua. Nhất là khi hiện nay, việc kê khai nộp thuế khá đơn giản, thậm chí có thể thực hiện các nghĩa vụ tài chính về đất đai thông qua Cổng dịch vụ công, bằng hình thức trực tuyến. Vấn đề là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân như thế nào, để họ hiểu và hình thành thói quen nộp thuế.
Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Có được ghi nợ tiền sử dụng đất khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở không? của Luật Minh Khuê.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Người có công được ghi nợ tiền SDĐ trong bao lâu? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!