1. Người đại diện của đương sự

1.1 Khái niệm người diện của đương sự

Người đại diện của đương sự là người tham gia tố tụng hành chính thay mặt cho đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính.

1.2 Phân loại người đại diện của đương sự

Dựa vào ý chí của đương sự có thể phân chia người đại diện của đương sự thành hai loại:

- Người đại diện theo pháp luật: Là người đại diện tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của pháp luật. Tư cách đại trong trường hợp này không phục thuộc vào ý chí của đương sự mà phải tuân theo các quy định của pháp luật. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng hành chính có thể là những người sau đây:

+ Đối với đương sự là cá nhân:

  • Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
  • Người giám hộ đối với người được giám hộ;
  • Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

+ Đối với đương sự là tổ chức, người đại diện theo pháp luật gồm:

  • Người đứng đầu cơ quan, tổ chức do được bổ nhiệm hoặc bầu theo quy định của pháp luật;
  • Những người khác theo quy định của pháp luật.

- Người đại diện theo ủy quyền: Là người đại diện tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo ủy quyền của đương sự. Khác với người đại diện theo pháp luật, tư cách đại diện của người đại diện theo ủy quyền chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở ý chí của đương sự và được biểu hiện cụ thể thông qua văn bản ủy quyền. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, được đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền bằng văn bản.

- Ngoài hai nhóm người đại diện phổ biến nói trên thì trong tố tụng hành chính cũng có thể xuất hiện nhóm người đại diện thứ ba. Đó là trường hợp đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú của người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đó.

2. Những trường hợp không được làm người đại diện trong tố tụng hành chính

Người đại diện của đương sự có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vì vậy để bảo đảm tính khách quan, vô tư trong tố tụng hành chính, Luật tố tụng hành chính quy định những trường hợp không được làm người đại diện trong tố tụng hành chính, cụ thể bao gồm các trường hợp sau đây:

 - Nếu họ là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền lợi hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;

- Nếu họ đang là đại diện tố tụng hành chính cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện cùng một vụ án;

- Cán bộ, công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát, Thanh tra, Thi hành án, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng hành chính, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

3. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện của đương sự

3.1 Đối với người đại diện theo pháp luật

Do đặc trưng của người mà nhóm người này đại diện là tổ chức hoặc người chưa thành niên hoặc là những người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó mà người đại diện theo pháp luật của những người nêu trên được thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự mà họ đại diện.

3.2 Đối với người đại diện theo ủy quyền

Đối với người đại diện theo ủy quyền đương sự mà họ đại diện là những người có năng lực hành vi tố tụng hành chính, bản thân người đương sự mà họ đại diện cũng hoàn toàn có thể thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Bởi vì lý do đó mà người đại diện theo ủy quyền của đướng ự chỉ có thể được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự nằm trong phạm vi ủy quyền mà thôi.

4. Chấm dứt việc đại diện của đương sự

Quan hệ đại diện của đương sự không phải là quan hệ tồn tại vĩnh viễn mà nó có thể được thay đổi, chấm dứt khi phát sinh những sự kiện pháp lý nhất định. Những sự kiến pháp lý này có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào ý chí của đương sự. Các trường hợp chấm dứt đại diện của đương sự bao gồm:

- Chấm dứt đại diện của cá nhân:

+ Đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

  • Người đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;
  • Người được đại diện chết;
  • Các trường hợp khác do pháp luật quy định;

+ Đại diện theo ủy quyền của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

  • Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền đã hoàn thành;
  • Người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền;
  • Người ủy qyền hoặc người được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết;

- Chấm dứt đại diện của pháp nhân:

+ Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt hoạt động;

+ Đại diện theo ủy quyền của pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp được nêu sau đây

  • Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc ủy quyền đã được hoàn thành;
  • Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền
  • Pháp nhân chấm dứt hoặc người được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

5.1 Khái niệm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Cá nhân (không phải là luật sư) có thể tham gia tố tụng hành chính với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Theo Luật tố tụng hành chính người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho một đương sự trong một vụ án hành chính.

5.2 Quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính

- Quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính: Khi tham gia tố tụng hành chính, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có các quyền như sau:

+ Được quyền tham gia tố tụng từ khi khởi kiện vụ án hành chính hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng hành chính;

+ Được quyền xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án;

+ Nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu có trong hồ sơ của vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;

+ Tham gia phiên tòa hoặc có văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

+ Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Luật tố tụng hành chính;

+ Được tham gia tranh luận tại phiên Tòa.

- Nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính có những nghĩa vụ như sau:

+ Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

+ Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;

+ Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của phiên Tòa.

6. Người làm chứng trong vụ án hành chính

Người làm chứng trong vụ án hành chính là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung của vụ án và được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với mục đích là làm rõ những tình tiết có trong vụ án đó. Với tư cách là một người nắm bắt, biết rõ những tình tiết có liên quan đén vụ án hành chính, những người làm chứng có thể nhìm thấy, nghe thấy hoặc nắm rõ các đồ vật, giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án. Và để nhằm mục đích hỗ trợ cho quá trình tố tụng hành chính người làm chứng phải có khả năng nhận thức, khai báo về các tình tiết đó với các cơ quan tiến hành tố tụng. Cũng vì đặc điểm đó nên người làm chứng bắt buộc phải là người có năng lực hành vi dân sự.

Người làm chứng khi họ tham gia tố tụng với tính chất khách quan hơn đương sự, bởi lẽ họ không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án hành chính mà họ đang tham gia. Vai trò của người làm chứng khi tham gia vụ án hành chính chủ yếu là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hành chính.

Luật tố tụng hành chính hiện hành không có quy định hạn chế trường hợp người làm chứng phải từ chối tham gia tố tụng nếu đồng thời là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Việc tham gia tố tụng hành chính ủa người làm chứng có thể do các đương sự trong vụ án hành chính yêu cầu tham gia hoặc cũng có thể là do Tòa án triệu tập khi xét thấy có sự cần thiết.

Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng khi tham gia vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Điều 62 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Luật Minh Khuê