1. Giải quyết tố cáo quá hạn mà chưa được giải quyết ra sao?

Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật Tố cáo năm 2018 báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, có sự khác biệt trong tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ:

Đối tượng tố cáo bao gồm cán bộ, công chức, viên chức và người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, bao gồm vi phạm quy định, trình tự, thủ tục, lợi dụng chức vụ, hành vi tham ô, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, vi phạm quy định về tài chính, ngân sách, quản lý, sử dụng tài sản công, vi phạm nghĩa vụ, quyền hạn và các hành vi khác liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Cả những người không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức, và những người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

 

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực:

Đối tượng tố cáo là cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, văn hóa, công nghệ thông tin, truyền thông, an ninh, quốc phòng và các lĩnh vực khác.

Các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực được quy định bởi các quy định pháp luật cụ thể của từng lĩnh vực. Đây có thể là vi phạm quy định, trình tự, thủ tục, vi phạm nghĩa vụ, quyền hạn, tham ô, tham nhũng, vi phạm quy định về tài chính, sử dụng tài sản công, vi phạm quy định về môi trường, an toàn lao động, vi phạm quyền lợi của người dân và các hành vi khác liên quan đến việc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực đó.

Tổng quan, tố cáo có thể liên quan đến vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đối tượng cụ thể, hoặc vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau. Điều này cho phép người tố cáo báo cáo các hành vi vi phạm pháp luật và đảm bảo tính công bằng, minh bạch và trách nhiệm trong việc quản lý và thực thi pháp luật.

Theo quy định tại Điều 38 Luật Tố cáo 2018, việc giải quyết tố cáo trong trường hợp quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết có các chi tiết sau đây:

Trường hợp tố cáo chưa được giải quyết trong thời hạn quy định tại Điều 30 Luật Tố cáo 2018, người tố cáo được quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo. Điều này đảm bảo quyền của người tố cáo được tiếp tục được xem xét và giải quyết vụ việc.

Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu người giải quyết tố cáo báo cáo về quá trình giải quyết tố cáo. Văn bản yêu cầu này cần yêu cầu người giải quyết tố cáo báo cáo về lý do chậm giải quyết tố cáo cũng như xác định rõ trách nhiệm của người giải quyết tố cáo. Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch và chấp hành quy định về thời hạn giải quyết tố cáo.

Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu từ người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp, người giải quyết tố cáo phải gửi báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Tố cáo 2018. Ngoài ra, người giải quyết tố cáo cũng phải tiếp tục giải quyết tố cáo theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp và báo cáo kết quả giải quyết, trừ trường hợp có quy định khác tại khoản 5 của Điều này.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm theo dõi và đôn đốc việc giải quyết tố cáo. Người này cũng phải thông báo cho người tố cáo biết về việc xem xét, giải quyết tố cáo. Hơn nữa, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên cũng có quyền áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý đối với người có thẩm quyền mà không giải quyết tố cáo theo đúng thời gian quy định.

Trong trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu không khách quan, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp sẽ giải quyết vụ việc tố cáo. Điều này đảm bảo tính công bằng và đúng luật trong quá trình giải quyết tố cáo.

 

 

2. Quy định về người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp giải quyết vụ việc tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức cấp dưới trong trường hợp quá thời hạn

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên có thẩm quyền trực tiếp giải quyết vụ việc tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức cấp dưới trong trường hợp quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết. Có các khác biệt nội dung cụ thể như sau:

- Khi có căn cứ xác định việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên phải giải quyết tố cáo trong những trường hợp sau đây:

Có vi phạm về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo dẫn đến kết luận tố cáo không chính xác, khách quan hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ việc.

Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật Tố cáo 2018, bao gồm: tố cáo liên quan đến nguy cơ đe dọa tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tố cáo hoặc người khác; tố cáo liên quan đến hành vi đe dọa, cản trở quyền lợi hợp pháp của người tố cáo hoặc người khác; tố cáo liên quan đến hành vi gian lận, biển thủ, tham ô, lợi dụng chức vụ, chức quyền; tố cáo về tội phạm hình sự; tố cáo về tội phạm khủng bố.

- Khi có dấu hiệu không khách quan trong việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức cấp dưới, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên phải giải quyết tố cáo trong những trường hợp sau đây:

Người bị tố cáo là người có mối quan hệ gia đình trực tiếp với người được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo hoặc người giải quyết tố cáo. Mối quan hệ gia đình này bao gồm vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố mẹ bên vợ hoặc bên chồng, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh ruột, chị ruột, em ruột.

Nội dung tố cáo có liên quan trực tiếp đến người bị tố cáo thuộc các mối quan hệ gia đình nêu trên.

Người được giao nhiệm vụ xác minh nội dung tố cáo hoặc người giải quyết tố cáo có lợi ích liên quan trực tiếp đến người bị tố cáo.

Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết tố cáo phải nêu rõ lý do và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Quyết định này được gửi đến người tố cáo, người bị tố cáo trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định. Điều này đảm bảo tính công bằng, minh bạch và đúng luật trong quá trình giải quyết tố cáo.

 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp lấy vụ việc tố cáo để giải quyết theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 5 Nghị định 31/2019/NĐ-CP phải có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức cấp dưới chấm dứt việc giải quyết và chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan, tổ chức cấp trên.

Khi nhận được hồ sơ vụ việc, thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp trên ra quyết định thụ lý tố cáo và thông báo bằng văn bản cho người tố cáo, người bị tố cáo, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp dưới trực tiếp giải quyết vụ việc và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thời hạn giải quyết tố cáo được tính từ ngày ra quyết định thụ lý tố cáo 

3. Người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo trong trường hợp nào?

- Người giải quyết tố cáo có thể ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo trong các trường hợp sau:

Cần đợi kết quả giải quyết từ cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đợi kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan.

Cần đợi kết quả giám định bổ sung hoặc giám định lại.

- Khi không còn căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, người giải quyết tố cáo sẽ ngay lập tức ra quyết định tiếp tục giải quyết tố cáo. Thời gian tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không được tính vào thời hạn giải quyết tố cáo.

- Người giải quyết tố cáo có thể ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo trong các trường hợp sau:

 Người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo, trừ trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật Tố cáo 2018.

 Người bị tố cáo là cá nhân đã qua đời và nội dung tố cáo chỉ liên quan đến trách nhiệm của người bị tố cáo.

Vụ việc đã được giải quyết thông qua bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

- Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết tố cáo phải rõ ràng nêu rõ lý do và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Quyết định này cần được gửi đến người tố cáo và người bị tố cáo trong thời hạn 5 ngày làm việc tính từ ngày ra quyết định.

Với căn cứ vào những thông tin và quy định trên, người giải quyết tố cáo sẽ quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết tố cáo trong các trường hợp cụ thể, đảm bảo tính công bằng, chính xác và phù hợp với quy định của Luật Tố cáo 2018.

 Xem thêm >>>> Cơ quan nào có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết đơn tố cáo? 

Quý khách liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp nhanh chóng. 

Trân trọng !