Cụ thể như sau:

1. Hiện CBNV đang làm việc tại Công ty, sau đó nghỉ việc và sang làm việc cho đối thủ. Để ngăn chặn được điều này thì liệu Công ty chúng tôi có thể quy định về việc không làm việc cho đối thủ sau ít nhất là n năm kể từ sau khi nghỉ việc tại công ty mình hay không? và như vậy có phù hợp với Luật lao động không? Hoặc biện pháp ngăn ngừa được trường hợp này?

2. Hiện đang có 1 số CBNV đang làm việc cho công ty nhưng lại ngầm cung cấp thông tin của Công ty cho đối thủ ? Vậy Công ty chúng tôi sẽ quy định nội dung này như thế nào trong Hợp đồng lao động, NQLĐ của Công ty để đảm bảo tính răn đe, có đủ tính pháp lý?

3. CBNV sau khi nghỉ việc tại Công ty, đã thành lập Cty có cùng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và/hoặc lôi kéo, xúi giục NV của Công ty chúng tôi sang bên đó làm việc. Vậy chúng tôi có thể quy định và ngăn ngừa nội dung này như thế nào?

Rất mong Luật sư có thể tư vấn cho Công ty chúng tôi về sự việc trên.

Tôi xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh ?

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật lao động 2012

Luật cạnh tranh 2004

2. Luật sư trả lời:

Về quy định ngăn chặn, hạn chế viêc tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ: 

Theo quy định tại khoản 2, điều 23 BLLĐ 2012 về nội dung hợp đồng lao động có quy định như sau: 

"Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm". 

Như vậy theo quy định này thì trong quá trình thỏa thuận ký kết hợp đồng lao động thì bên công ty bạn và người lao động có quyền được thỏa thuận với nhau về những nội dung có liên quan đến việc bảo vệ bí mật kinh doanh của công ty, thỏa thuận về thời hạn bảo vệ bí mật ( có thể ngay cả khi người lao động đã nghỉ việc tại công ty), ví dụ như Thỏa thuận: Trong thời gian làm việc, người lao động không được làm lộ các bị mật trong kinh doanh ( như chiến lược kinh doanh của công ty; không được tiết lộ các bí mật về công thức, cách thức tạo ra sản phẩm,...). Ngoài ra còn có thể thỏa thuân như: NLĐ không được làm việc cho doanh nghiệp khác kinh doanh cùng lĩnh vực, ngành nghề ( đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sáng tạo thì điều khoản thỏa thuận này lại càng cần thiết) trong vòng 5 năm kể từ ngày không làm việc tại doanh nghiệp nữa... Hơn nữa, hai bên còn có quyền thỏa thuận về vấn đề " Bồi thường thiệt hại" trong trường hợp việc làm lộ bí mật kinh doanh gây ra thiệt hại cho doanh nghiệp.

Việc thỏa thuận hạn chế này là phù hợp, do trong quá trình làm việc cho một NSDLĐ, NLĐ có được nhiều kiến thức chuyên môn hay biết được bí mật sản xuất, kinh doanh; bí mật công nghệ; bí mật thương mại… kể cả sự quen biết với khách hàng. Nếu NLĐ này đi làm việc ở chỗ khác và mang những sự hiểu biết này đến phục vụ cho NSDLĐ khác thì có thể sẽ gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho NSDLĐ đã dùng họ, đặc biệt nếu NSDLĐ khác này lại là một đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ ban đầu trong cùng lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, trong trường hợp Hợp đồng lao động đã ký chưa thỏa thuận về các điều khoản liên quan đến bảo vệ bí mật kinh doanh thì hai bên có thể tiếp tục thỏa thuận và bổ sung các nội dung này bằng phụ lục hợp đồng ( là một bộ phận của hợp đồng và có hiệu lực như hợp đồng).

Như vậy, điều công ty bạn đang băn khoăn là phù hợp với quy định của pháp luật Lao động. Thấy rằng việc vận dụng quy định trên vào thực tiễn cũng còn không ít vướng mắc và còn nhiều cách hiểu khác nhau, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về sự thỏa thuận này nên tốt hơn hết, cần cụ thể hóa nội dung quy định tại khoản 2 Điều 23 BLLĐ 2012 thành những nội dung trong hợp đồng cụ thể để đảm bảo vẫn có tính răn đe và hợp pháp:

>> Xem thêm:  Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật một số nước trên thế giới ?

- NLĐ tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh thì có thể bị sa thải;

- NLĐ là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh thì phải bồi thường theo chế độ trách nhiệm vật chất;

- NLĐ phải có trách nhiệm bồi thường phí đào tạo trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng;

- Cấm hành vi lôi kéo, mua chuộc nhân viên hoặc khách hàng của thương nhân khác;…

Về hình thức kỷ luật sa thải và trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất:

Trong trường hợp: Hiện đang có 1 số cán bộ nhân viên đang làm việc cho công ty nhưng lại ngầm cung cấp thông tin của Công ty cho đối thủ cạnh tranh thì phải xử lý sao cho phù hợp với quy định của pháp luật:

- Trường hợp này, người lao động đã có hành vi " tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ" thì nếu công ty bạn có thể chứng minh được điều này thì công ty bạn đã có căn cứ để áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động có hành vi này. 

- Trong hợp đồng lao động nên có thỏa thuận về điều khoản " Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất" do hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của người lao động gây ra, dựa trên thiệt hại của công ty trên thực tế.

Về hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 

Đối với đối thủ cạnh tranh khi lôi kéo người trong công ty bạn tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì công ty bạn có thể có các căn cứ quy định tại Luật cạnh tranh 2004 như sau: Một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi Xâm phạm bí mật kinh doanh

>> Xem thêm:  Các trường hợp tập trung kinh tế phải thông báo với cơ quan quản lí cạnh tranh trước khi thực hiện ?

Điều 41, Luật cạnh tranh năm 2004 quy định như sau:  

Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây:

1. Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

2. Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh;

3. Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

Theo những căn cứ đó, nếu công ty bạn thấy rằng bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của mình đang bị xâm phạm do những hành vi nêu trên thì có thể thực hiện quyền Khiếu nại vụ việc này đến cơ quan quản lý cạnh tranh. Khi đó, việc giải quyết liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân tích một số quan điểm và mô hình về kiểm soát tập trung kinh tế ?