1. Trong trường hợp nào người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp?

Bảo hiểm xã hội có mục đích quan trọng là giảm thiểu các rủi ro và bảo vệ con người trong những trường hợp cụ thể, đồng thời đem lại các ưu đãi và hỗ trợ pháp lý trong những tình huống khó khăn. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải tuân thủ chặt chẽ các quy định và nguyên tắc mà pháp luật đã đề ra. Mục tiêu của bảo hiểm xã hội là tạo điều kiện để mọi công dân đều có cơ hội tiếp cận các quyền lợi xã hội và bảo vệ chính mình trước các rủi ro về y tế, tai nạn lao động, thất nghiệp và lúc không làm việc do tuổi già, bệnh tật. Các hệ thống bảo hiểm xã hội thường bao gồm các chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm hưu trí. 

Trong trường hợp một cá nhân hoặc gia đình gặp khó khăn hoặc gặp phải những tình huống đặc biệt, bảo hiểm xã hội cũng đảm bảo các chính sách hỗ trợ và ưu đãi phù hợp để đảm bảo cuộc sống ổn định và an lành. Các chế độ bảo hiểm xã hội không chỉ là một hình thức bảo vệ cho người lao động mà còn là một yếu tố quan trọng giúp duy trì ổn định và phát triển xã hội.

Để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, các quy định và quyền lợi liên quan phải được quy hoạch rõ ràng và hợp lý. Việc nắm vững, thực hiện và tuân thủ các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội là trách nhiệm của cả chính phủ, các tổ chức bảo hiểm và cộng đồng dân cư. Bằng việc áp dụng chính sách và quy định đúng đắn, bảo hiểm xã hội sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển của xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Theo khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm năm 2013, người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong các trường hợp làm việc theo các loại hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc sau đây:

- Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn: Đây là trường hợp người lao động và người sử dụng lao động không xác định thời gian cụ thể khi ký kết hợp đồng lao động.

- Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn: Trong trường hợp này, người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận về thời gian làm việc cụ thể trong hợp đồng.

- Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ 03 tháng đến dưới 12 tháng: Đây là trường hợp người lao động chỉ tham gia làm việc trong một mùa vụ hoặc thực hiện một công việc cụ thể và thời gian làm việc được xác định từ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Trong trường hợp người lao động ký kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này, thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên sẽ có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Điều này có nghĩa là trong trường hợp có nhiều hơn một hợp đồng lao động liên tiếp, chỉ hợp đồng lao động đầu tiên được coi là quyết định về trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

 

2. Quy định pháp luật về việc tham gia bảo hiểm xã hội năm 2023 như thế nào?

Theo Điều 44 Luật Việc làm 2013, việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:

- Người sử dụng lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động tại tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày, tính từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có hiệu lực.

- Hằng tháng, người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp theo mức quy định tại điểm b khoản 1 Điều 57 Luật Việc làm 2013 và trích tiền lương của từng người lao động theo mức quy định tại điểm a khoản 1 Điều 57 Luật Việc làm 2013 để đóng cùng một lúc vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

- Dựa vào tình hình kết dư của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Nhà nước chuyển kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước vào Quỹ theo mức do Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật Việc làm 2013.

Điều này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, cụ thể:

- Hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp là hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm các thông tin cụ thể về việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

- Người sử dụng lao động lập và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động cho tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày, tính từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc của người lao động có hiệu lực.

Ngoài ra, Nghị định 28/2015/NĐ-CP cũng quy định những trường hợp cụ thể về việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp:

- Nếu người lao động đã giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định với thời hạn từ 03 tháng đến dưới 12 tháng trước ngày 01 tháng 01 năm 2015 và đang thực hiện hợp đồng này, thì người sử dụng lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho những người lao động này nếu thời hạn kết thúc hợp đồng còn ít nhất 03 tháng trở lên.

- Trường hợp người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm 2013 và đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo hợp đồng lao động giao kết có hiệu lực đầu tiên mà khi chấm dứt hoặc thay đổi hợp đồng dẫn đến người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, thì người lao động và người sử dụng lao động.

 

3. Người lao động không làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm thất nghiệp tháng đó đúng không?

Bảo hiểm thất nghiệp là một quyền lợi quan trọng và hỗ trợ đáng quý dành cho người lao động khi họ ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động. Trong những tình huống khó khăn khi mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ người lao động vượt qua khó khăn tài chính trong giai đoạn chưa tìm được việc làm mới. Khi mất việc làm, người lao động thường phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc duy trì cuộc sống hàng ngày, đáp ứng nhu cầu cơ bản và đảm bảo cho gia đình. Trợ cấp thất nghiệp giúp bảo vệ và hỗ trợ người lao động trong thời gian chưa có công việc mới, từ đó giảm bớt gánh nặng tài chính và tạo điều kiện để họ tập trung tìm kiếm việc làm phù hợp.

Bên cạnh việc đảm bảo cuộc sống ổn định trong giai đoạn thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp cũng hỗ trợ người lao động tiếp cận các dịch vụ đào tạo, học tập hoặc đào tạo nghề mới, giúp họ nâng cao năng lực và cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn. Điều này không chỉ hỗ trợ cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy phát triển và thăng tiến của nguồn nhân lực trong xã hội.

Tuy nhiên, để hưởng quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp, người lao động phải tuân thủ các quy định và điều kiện do pháp luật đề ra. Điều này đảm bảo tính công bằng và tránh tình trạng lạm dụng quyền lợi này.

Dựa vào quy định pháp luật đã nêu ở trên, khi người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên, và trong thời gian này không nhận được tiền lương từ đơn vị mà nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội, thì người lao động sẽ không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng thời gian này.

Tuy nhiên, theo đề xuất tại Dự thảo Đề cương chi tiết Luật Việc làm sửa đổi, bổ sung quy định về tham gia bảo hiểm thất nghiệp như sau:

Kế thừa quy định như nội dung tại Điều 44 Luật Việc làm 2013.

Bổ sung các quy định về:

- Người lao động không làm việc và không nhận tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng sẽ không được đóng bảo hiểm thất nghiệp trong tháng đó.

- Trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải thông báo ngay cho cơ quan lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội về tình trạng việc làm của người lao động.

Bổ sung quy định liên quan đến quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp:

- Đối với trường hợp người sử dụng lao động không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm thất nghiệp, sẽ có các biện pháp xử lý đối với họ.

- Quản lý đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Vì vậy, khi người lao động không làm việc và không nhận tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, họ sẽ không bị tính vào số ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp trong tháng đó. Điều này nhằm gia tăng tính hiệu quả trong quản lý và tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Quý khách có thể tham khảo thêm nội dung bài viết: Mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp năm 2023 là bao nhiêu tiền?. Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy gọi đến hotline tư vấn trực tuyến 19006162 hoặc gửi thư đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn