1. Tự nghỉ việc sau Tết là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật?

Theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Lao động 2019, quy định về việc chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương trái pháp luật như sau: Chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương trái pháp luật xảy ra khi hợp đồng lao động bị chấm dứt mà không tuân theo quy định tại các Điều 35, 36, và 37 của Bộ Luật này. Tại Điều 35, Bộ Luật Lao động 2019 đề cập đến quyền của người lao động trong việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, theo đó: Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương, nhưng phải thông báo trước cho người sử dụng lao động theo các khoản sau: Ít nhất 45 ngày nếu họ làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn; Ít nhất 30 ngày nếu họ làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; Ít nhất 03 ngày làm việc nếu họ làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng; Đối với các ngành, nghề, hoặc công việc đặc thù, thời hạn thông báo được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần thông báo trước trong các trường hợp sau đây: Không được bố trí đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được đảm bảo điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ Luật này; Không nhận đủ lương hoặc nhận lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ Luật này; Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập, có lời nói hoặc hành vi nhục mạ, ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, bị cưỡng bức lao động; Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ Luật này; Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên; Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ Luật này, ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Do đó, nếu người lao động tự ý không trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán mà không thông báo trước cho người sử dụng lao động, và hành động này không thuộc các trường hợp đặc biệt được nêu trên, thì họ sẽ bị xem là đã chấm dứt hợp đồng lao động một cách đơn phương, và hành động này sẽ bị coi là vi phạm pháp luật.

2. Tự nghỉ việc sau Tết có phải bồi thường cho người sử dụng lao động?

Dựa trên quy định của Điều 40 trong Bộ luật Lao động năm 2019, nêu rõ về nghĩa vụ của người lao động khi thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật, có một số nghĩa vụ mà người lao động cần tuân thủ, bao gồm:

- Không được hưởng trợ cấp thôi việc: Người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc khi họ tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không tuân thủ quy định và điều kiện quy định trong pháp luật. Trợ cấp thôi việc thường được cung cấp cho người lao động trong những trường hợp khác, như khi hợp đồng lao động bị chấm dứt theo quy định pháp luật hoặc theo thỏa thuận giữa hai bên.

- Bồi thường cho người sử dụng lao động: Người lao động phải thanh toán bồi thường cho người sử dụng lao động một lượng tiền tương đương với nửa tháng tiền lương, được tính theo hợp đồng lao động. Chi trả lương trong những ngày không thông báo trước: Ngoài ra, họ cũng cần chi trả một khoản tiền tương ứng với số tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không thông báo trước cho người sử dụng lao động. Điều này đảm bảo rằng người sử dụng lao động không bị thiệt hại quá mức do việc chấm dứt hợp đồng mà không có thông báo trước.

- Hoàn trả chi phí đào tạo: Theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động nếu có thoả thuận trong hợp đồng lao động và nếu điều kiện quy định tại đó được thỏa mãn. Điều này nhấn mạnh việc đảm bảo công bằng và chính xác trong quá trình đào tạo và sử dụng lao động.

Như vậy, đối với người lao động thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật, tức là quyết định tự tiện nghỉ làm sau kỳ nghỉ Tết, người lao động đó sẽ phải chịu nghĩa vụ bồi thường. Cụ thể, nghĩa vụ này bao gồm việc thanh toán một phần tiền lương, chiết theo hợp đồng lao động, cùng với một khoản tiền tương đương với mức lương quy định trong hợp đồng lao động cho những ngày nghỉ không thông báo trước cho người sử dụng lao động. Tóm lại, có thể khẳng định rằng trong tình huống người lao động tự tiện không trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết, họ sẽ rơi vào trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không tuân theo quy định của pháp luật lao động, và do đó, người lao động sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường đối với công ty, tuân theo quy định của pháp luật về lao động.

3. Người lao động tự nghỉ việc sau Tết có được chốt sổ bảo hiểm xã hội?

Tại Điều 48 của Bộ Luật Lao động 2019, quy định về trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

- Trong khoảng 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, cả hai bên đều có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Tuy nhiên, có thể kéo dài thời hạn này nhưng không vượt quá 30 ngày trong các trường hợp sau đây: Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động; Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

- Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, giải thể, hoặc phá sản, các khoản tiền liên quan đến tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể hoặc hợp đồng lao động sẽ được ưu tiên thanh toán trước các khoản nợ khác khi doanh nghiệp bị chấm dứt hoạt động hoặc phá sản. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong tình huống khẩn cấp của doanh nghiệp.

- Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện các công việc sau: Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp: Điều này bao gồm việc cung cấp thông tin và hoàn thành các thủ tục cần thiết để xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Nếu người sử dụng lao động giữ các giấy tờ quan trọng của người lao động, họ phải trả lại bản chính của những giấy tờ này khi được yêu cầu. Người sử dụng lao động cần cung cấp bản sao của các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu họ đề nghị, và chi phí sao cũng như chi phí gửi tài liệu sẽ được chi trả bởi người sử dụng lao động.

Do đó, người sử dụng lao động vẫn phải đảm nhận trách nhiệm hoàn thành các thủ tục liên quan đến việc xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Ngay cả khi người lao động thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật, đặc biệt là khi họ tự tiện nghỉ việc sau kỳ nghỉ tết, trách nhiệm của người sử dụng lao động vẫn bao gồm việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động..

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Nghỉ tết âm lịch có được hưởng nguyên lương không nếu trước đó xin nghỉ không lương ?

 Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!