- 1. Hạn chế quyền của người lập di chúc
- 2. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
- 3. Căn cứ xác định hai phần ba của một suất thừa kế chia theo pháp luật
- 4. Tính hai phần ba của một suất thừa kế chia theo pháp luật liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng
- 5. Xác định hai phần ba của một suất thừa kế liên quan đến di tặng
1. Hạn chế quyền của người lập di chúc
Pháp luật của bất kỳ quốc gia nào được ban hành đều nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định và theo những nguyên tắc bảo đảm sự bình ổn về mặt xã hội, đồng thời, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nhất định. Cũng theo phương thức và nguyên tắc chung đó, pháp luật thừa kế Việt Nam cho phép cá nhân người lập di chúc có quyền tự do, tự nguyện, tự định đoạt trong việc lập di chúc để lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bất kỳ ai được hưởng sau khi người lập di chúc chết. Tự do của con người trong xã hội nhất định phụ thuộc vào cơ chế điều chỉnh của pháp luật; còn hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đạt đến mức độ nào còn tuỳ thuộc vào sự tuân theo pháp luật của công chúng và tính phù hợp của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội tương ứng. Pháp luật thừa kế Việt Nam cũng có những quy định hạn chế đối với quyền tự định đoạt của người lập di chúc trong những trường hợp sau:
Hạn chế thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của những người là cha, mẹ, vợ, chồng, các con dưới 18 tuổi của người lập di chúc và các con tuy đã trưởng thành mà không có khả năng lao động của người để lại di sản. Trong trường hợp người có tài sản định đoạt trong di chúc không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng một phần di sản ít hơn hai phần ba của một suất thừa kế được chia theo pháp luật thì mỗi người trong số họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, những người nói trên không phải là người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 621 BLDS năm 2015. Điều 644 BLDS năm 2015 quy định quyền hưởng di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc luôn được bảo đảm thực hiện. Theo đó, quyền thừa kế của người vợ goá đã được pháp luật thừa kế bảo vệ ngang hàng với những người có quan hệ huyết thống trực hệ khác của người để lại di sản. Quan hệ hôn nhân theo đó được coi trọng bình đẳng với quan hệ huyết thống. Đây là quy định mang tính cách mạng, khác với pháp luật của chế độ thực dân, phong kiến trước đây chỉ coi trọng quan hệ huyết thống, còn quan hệ hôn nhân chỉ được đặt ở vị trí thứ yếu, mà quyền thừa kế của người vợ goá không được coi trọng.
Hạn chế thứ hai, người lập di chúc không được đặt điều kiện trong di chúc. Pháp luật thừa kế Việt Nam hiện nay không có quy định nào về việc người lập di chúc có quyền đặt điều kiện với người thừa kế theo di chúc như điều kiện phát sinh quyền thừa kế hoặc điều kiện chấm dứt quyền thừa kế.
Hạn chế thứ ba, theo pháp luật thừa kế Việt Nam, người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản cho bất kỳ ai, người thuộc diện thừa kế theo pháp luật hoặc người khác ngoài những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật, có quyền cho tổ chức, cho nhà nước hưởng di sản của mình. Tuy nhiên, pháp luật không thừa nhận di chúc của cá nhân định đoạt tài sản cho gia súc, gia cầm, cây cối được thừa kế. Quan hệ thừa kế là quan hệ pháp luật dân sự điển hình và quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ này được xác định rõ là quyền định đoạt của người có tài sản trong việc lập di chúc hay không lập di chúc, quyền tự định đoạt trong quan hệ thừa kế của những người thừa kế là có quyền nhận di sản hay từ chối quyền hưởng di sản trừ trường hợp sự từ chối đó nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của bản thân đối với người khác là chủ nợ (Điều 620 BLDS năm 2015).
2. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Quy định trên một mặt pháp luật tôn trọng ý chí của người để lại di sản, mặt khác hạn chế quyền định đoạt của người nay để bảo vệ quyền được hưởng thừa kế cho một số đối tượng mà khi còn sống họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc. Người thừa kế kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc có quyền đòi chia đủ 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Vì thế, có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người thừa kế khác cũng như nhưng người khác (không phải là người thừa kế) được hưởng di sản thông qua sự định đoạt của người lập di chúc. Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nằm ngoài dự định của người có di sản để lại với sự công nhận và bảo vệ của pháp luật. Mặc dù đây là quy định bất chấp ý chí của người lập di chúc và “chống lại” những người hưởng thừa kế khác.
Ví dụ: Ông A có vợ là B và có 2 con là C và D ( đều đã thành niên).
Ông A có di chúc để lại là 180 triệu đồng ông định đoạt số tài sản của ông như sau: Truất quyền hưởng di sản của bà B; Dành 5 triệu di tặng Q; Dành 15 triệu cho thờ cúng; Phần còn lại chia đều cho hai con C và D. . .
Nếu bà B yêu cầu toà án bảo vệ quyền hưởng di sản thừa kế của mình thì tình huống trên được giải quyết như sau:
1) Di chúc hợp pháp nên chia theo di chúc: 5 triệu cho Q; 15 triệu cho thờ cúng; D = C= 160: 2 = 80 triệu đồng, vậy, D được hưởng 80 triệu; C được hưởng 80 triệu.
2) Bà B là đối tượng được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nên được xác định “kỷ phần bắt buộc” là: (180 : 3) X 2/3 = 40 triệu đồng. Số tiền này lấy từ phần di sản của C và D.
3. Căn cứ xác định hai phần ba của một suất thừa kế chia theo pháp luật
Lấy tổng di sản gốc là phần di sản còn lại để chia thừa kế sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại theo thứ tự ưu tiên thanh toán được quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2015 gồm:
Điều 658. Thứ tự ưu tiên thanh toán
Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.
2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.
3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.
4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.
5. Tiền công lao động.
6. Tiền bồi thường thiệt hại.
7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước.
8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.
9. Tiền phạt.
10. Các chi phí khác.
Phần di sản còn lại được hiểu là di sản để chia thừa kế và là phần “di sản gốc” đem chia cho những “người thừa kế gốc” tại hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng, được bao nhiêu nhân với hai phần ba của suất đó và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được hưởng phần đã được xác định theo cách tính này.
Những người thừa kế gốc tại hàng thừa kế thứ nhất được hiểu là người thừa kế có tên trong hàng đó và có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế gốc tại hàng thừa kế thứ nhất là những người thừa kế có quyền hưởng di sản. Nếu người có tên trong hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, nhưng đã từ chối quyền hưởng di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015, thì bị loại khỏi hàng thừa kế. Những người bị loại khỏi hàng thừa kế thứ nhất không phải là tham số để xác định một suất thừa kế chia theo pháp luật.
4. Tính hai phần ba của một suất thừa kế chia theo pháp luật liên quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng
Trường hợp thứ nhất, nếu sự định đoạt đó vi phạm quyền thừa kế của người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015, thì không được bảo hộ theo sự định đoạt của người lập di chúc. Nếu người lập di chúc định đoạt phần lớn hoặc toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng mà xâm phạm đến quyền được hưởng hai phần ba của một suất thừa kế được chia theo pháp luật của cha, mẹ, vợ, chồng, các con dưới 18 tuổi và các con tuy đã thành niên mà không có khả năng lao động thì trước hết tính phần thừa kế cho những người này theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015, phần còn lại là di sản dùng vào việc thờ cúng.
Trường hợp thứ hai, quyền của người lập di chúc định đoạt di sản dùng vào việc thờ cúng bị hạn chế trong trường hợp toàn bộ tài sản của người đó để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng (khoản 2 Điều 644 BLDS năm 2015).
5. Xác định hai phần ba của một suất thừa kế liên quan đến di tặng
Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.
Di tặng là một phần tài sản trong khối di sản của người chết để lại; việc xác định giá trị của di tặng không thể vượt ra ngoài phạm vi giá trị khối di sản của người chết. Trước hết, phải thanh toán các nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại từ khối di sản của người đó và tuân theo thứ tự ưu tiên đã được quy định tại Điều 658 BLDS năm 2015, phần di tặng được trừ từ di sản còn lại đó. Người được di tặng không phải là người được thừa kế di sản mà được hiểu là người có quyền tài sản từ khối di sản của người để lại di tặng. Như vậy, di tặng chỉ phát sinh từ căn cứ duy nhất - từ di chúc. Thực chất, phần di tặng đã được xác định theo sự định đoạt của người lập di chúc vẫn thuộc về người được di tặng; theo đó, phần di sản sau khi đã trừ đi phần di tặng còn lại là di sản được chia thừa kế. Nhưng trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết để lại không đủ để thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người di tặng thì phần di tặng khi đó cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.
Người được di tặng là ai cần phải được đặt ra, vì lợi ích của người được di tặng có sự liên quan trực tiếp đến lợi ích của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015. Nếu người được di tặng là người không thuộc diện thừa kế theo pháp luật thì phần người này được di tặng được khấu trừ để bảo đảm lợi ích của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, nếu phần di tặng đó chiếm phần lớn giá trị di sản của người lập di chúc. Phương thức trên cũng được áp dụng đối với người được di tặng khác đồng thời là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di tặng. Trong trường hợp người được di tặng đồng thời là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà giá trị phần di tặng đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của những người khác - người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì giá trị di tặng do người này được hưởng cũng bị khấu trừ để bảo đảm lợi ích của những người nói trên (Điều 644 BLDS năm 2015).
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.