Thưa luật sư, kính mong luật sư phân tích giúp tôi quy định pháp luật hiện hành về người lập di chúc và điều kiện của người lập di chúc. Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn! Người gửi: Hoàng Lịch - Cao Bằng

>> Luật sư tư vấn thừa kế, di chúc, chia di sản, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết".

1. Người lập di chúc là gì? 

Người lập di chúc là cá nhân có tài sản, tự nguyện thể hiện ý chí của mình nhằm phân định, định đoạt, chuyển giao tài sản của mình cho người khác (những người thừa kế) sau khi chết.

Tại sao người lập di chúc chỉ có thể là cá nhân?

Pháp luật quốc tế hay pháp luật Việt Nam đều xác định rõ, người lập di chúc chỉ có thể là cá nhân. Điều này được lý giải rằng “xã hội suy cho đến cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”. Theo quan điểm này, số lượng các chủ thể có thể thay đổi, biến chuyển để phù hợp với từng loại quan hệ nhưng chủ thể duy nhất có thực là con người. Đồng quan điểm khi nhìn nhận về vấn đề này, khi đề cập tới tổ chức nói chung và pháp nhân nói riêng, thuyết giả định (được các luật gia Tây Âu ghi nhận và người giải thích cũng như tán đồng nhất là Laurent - luật gia người Bỉ) đã chỉ ra, pháp nhân là một chủ thể giả định. Các hoạt động của pháp nhân đều thông qua cá nhân. Đối với hoạt động lập di chúc, việc định đoạt tài sản luôn gắn liền với yếu tố ý chí của cá nhân. Điều này càng khẳng định, ý chí phải được gắn với chủ thể có thực. Còn đối với các chủ thể khác, sẽ rất khó để chúng ta có thể xác định được yếu tố ý chí chung cũng như sự thống nhất ý chí khi định đoạt tài sản chung cho người khác.

Theo quy định tại Điều 624 và Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng rằng chỉ cá nhân mới có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác. Các tổ chức, cơ quan hay pháp nhân hoàn toàn không có quyền này.

Sở dĩ pháp luật chỉ cho phép cá nhân là chủ thể duy nhất có quyền lập di chúc xuất phát từ các bản chất pháp lý cốt lõi sau:

  • Bản chất của di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân: Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương nhằm thể hiện ý chí đích thực của một con người bằng xương bằng thịt nhằm định đoạt khối tài sản thuộc sở hữu riêng của họ sau khi họ qua đời. Ý chí này gắn liền với tình cảm, đạo đức, trách nhiệm gia đình và mối quan hệ huyết thống - những yếu tố chỉ tồn tại ở con người (cá nhân). Quyền thừa kế và di chúc sinh ra nhằm giải quyết khối tài sản để lại khi một con người kết thúc vòng đời sinh học của mình. Pháp nhân (như công ty, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước...) là những thực thể do con người lập ra có tính chất "vô thời hạn" hoặc giải thể theo thủ tục pháp lý, chứ không trải qua sự kiện "chết" theo nghĩa sinh học. Do đó, pháp nhân không thể có "di sản" hay "ý chí định đoạt tài sản sau khi chết".
  • Yêu cầu về năng lực hành vi dân sự và sự minh mẫn: Pháp luật đòi hỏi người lập di chúc phải có sự minh mẫn, sáng suốt, không bị đe dọa, lừa dối tại thời điểm lập di chúc. Đây là yếu tố tâm lý - nhận thức chỉ có ở bộ não của con người. Các tổ chức hay cơ quan hoạt động thông qua người đại diện, do đó không thể tự thân "ý thức" hay tự quyết định việc phân chia tài sản cá nhân theo cảm xúc hay đạo lý gia đình được.

Tóm lại, di chúc là công cụ pháp lý độc quyền dành riêng cho cá nhân nhằm định đoạt tài sản cá nhân trước khi qua đời. Các tổ chức hay pháp nhân không có tư cách chủ thể này.

Vì sao cần quy định điều kiện người lập di chúc?

Từ xưa tới nay, hầu hết các văn bản quy định về thừa kế của Việt Nam đều khẳng định, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, để di chúc hợp pháp, quy định của pháp luật còn đặt ra nhiều điều kiện, yêu cầu người lập di chúc phải thoả mãn. Đây là quy định thể hiện sự can thiệp, điều chỉnh bởi ý chí của Nhà nước nhằm cân bằng nhu cầu để lại tài sản của một người cho người khác sau khi chết và quyền, lợi ích của các chủ thể khác có liên quan tới quá trình thừa kế.

Như vậy, quy định này nhằm đảm đảo tính khách quan của ý chí cá nhân không chịu sự tác động bởi ngoại cảnh nhằm tôn trọng quyền của người có di sản thể hiện ý định của mình. Tham khảo: Dịch vụ lập di chúc của Luật Minh Khuê.

 

2. Điều kiện của người lập di chúc là gì?

Điều kiện về người xác lập giao dịch nói chung và người lập di chúc nói riêng được Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 như sau: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”.

Theo quy định này, người xác lập giao dịch phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Đối với quá trình lập di chúc, ngoài việc tuân thủ quy định chung về người xác lập giao dịch, pháp luật đặt ra các quy định riêng nhằm khẳng định sự điều chỉnh tính đặc thù của quan hệ thừa kế.

Cụ thể, Điều 624 BLDS năm 2015 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Quy định này đã chỉ rõ, người lập di chúc luôn được pháp luật xác định chỉ có thể là cá nhân và cá nhân đó cũng phải thỏa mãn điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi khi lập di chúc.

Để tham gia vào một giao dịch dân sự, cá nhân có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch hoặc thông quan cơ chế đại diện. Tuy nhiên, đối với trường hợp lập di chúc, cá nhân không thể thông qua cơ chế đại diện để xác lập loại giao dịch đặc biệt này. Điều này được lý giải rằng, đại diện là “việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

Với bản chất này của đại diện, nếu chúng ta đưa vào áp dụng trong di chúc sẽ không thể phù hợp ở chỗ:

- Việc nhân danh và vì lợi ích của cá nhân - người để lại di sản rất khó xác định trên thực tế. Bởi vì, hoạt động lập di chúc chỉ mang lại lợi ích tinh thần cho người để lại di sản. Nên chỉ bản thân cá nhân đó mới có thể hiểu được một cách rõ ràng, những lợi ích tinh thần mà mình cần hoặc mong muốn đạt được;

- Di chúc là loại giao dịch đặc thù, chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết đi.

Do đó, khi cá nhân lập di chúc chết, việc nhân danh và vì lợi ích của họ cũng không còn ý nghĩa trên thực tế. Vì vậy, pháp luật không thừa nhận cơ chế đại diện trong hoạt động lập di chúc.

Điều 625 BLDS năm 2015 quy định về người lập di chúc như sau:

“1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc”.

Theo quy định này, hai nhóm cá nhân được luật cho phép thực hiện quyền lập di chúc bao gồm:

- Người thành niên minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

- Người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Rõ ràng theo sự ghi nhận này, người lập di chúc và người xác lập giao dịch nói chung đã được khoanh vùng và xác định theo phạm vi khác nhau. Sự cụ thể hoá quy định về người lập di chúc theo quy định của pháp luật hiện hành được xem xét dựa trên một số khía cạnh sau:

2.1.  Điều kiện về độ tuổi

Quy định về độ tuổi của người lập di chúc, nội dung này phản ánh sự dẫn nhập giữa quy định về năng lực của chủ thể cá nhân và mức độ tham gia giao dịch mà pháp luật quy định. Theo đó, người thành niên được xác định là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. Về nguyên tắc, người thành niên là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được tham gia xác lập mọi giao dịch dân sự, trong đó có việc lập di chúc.

Ngoài việc ghi nhận cho cá nhân đủ mười tám tuổi trở lên được lập di chúc, BLDS năm 2015 cũng quy định cho phép người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi thực hiện quyền lập di chúc. Quy định này đã tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đó,nhưng BLDS năm 2015 đã có những thay đổi để phù hợp hơn. Thay vì chỉ cần sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ cho cá nhân từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc như các Bộ luật trước, khoản 2 Điều 625 BLDS năm 2015 quy định “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc”. Điều này khẳng định một cách rõ ràng hơn, rằng cha, mẹ hoặc người giám hộ không được can thiệp vào nội dung di chúc của người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi. Quy định này thể hiện được sự phù hợp khi xét về bản chất của di chúc, vì nội dung của di chúc phải là sự thể hiện ý chí của người thiết lập ra nó, cho nên, quy định sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ về việc lập di chúc và không được can thiệp vào nội dung của di chúc là hoàn toàn phù hợp.

2.2. Điều kiện về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi

Nhận thức được hiểu là quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lý luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ. Như vậy, không phải tự nhiên mà pháp luật ở mỗi quốc gia lại quy định cá nhân cần phải đạt đến một độ tuổi nhất định mới có quyền lập di chúc. Vì chỉ khi đạt đến một độ tuổi nhất định, một cá nhân mới đạt đến “độ chín” về nhận thức. Do đó, việc lập di chúc luôn cần phải đảm bảo được yếu tố độ tuổi để khẳng định sự trưởng thành về nhận thức cá nhân. Khi đó, việc thực hiện các hành vi trên cơ sở nhận thức sẽ đảm bảo được tính đúng đắn, trung thực, khách quan.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc một người đạt độ tuổi trưởng thành cũng chưa hẳn đã là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Nhận diện được vấn đề này, nhà làm luật đã ghi nhận trong BLDS năm 2015 những quy định mang tính loại trừ về người xác lập giao dịch như sau: “Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các Điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này”. Với quy định này, những người rơi vào trạng thái bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người không có hoặc không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo cách quy định này, khi cá nhân thuộc các trường hợp được quy định tại các Điều 22, 23 và 24 BLDS năm 2015 tham gia vào giao dịch sẽ cần đến người đại diện hoặc sẽ bị hạn chế ở một vài loại giao dịch.

Khi nhìn nhận ở khả năng nhận thức, điều khiển hành vi đối với việc lập di chúc, BLDS năm 2015 xác định người được lập di chúc như sau: Về nguyên tắc, người thành niên có quyền lập di chúc. Tức là, cá nhân đủ mười tám tuổi sẽ có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Tuy nhiên, cá nhân muốn lập di chúc còn phải thỏa mãn điều kiện: minh mẫn, sáng suốt, không bị cưỡng ép, lừa dối, đe dọa. Như vậy, thông qua quy định này, pháp luật đã loại trừ chủ thể bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc những chủ thể gặp phải các vấn đề về nhận thức, trạng thái tinh thần không minh mẫn, sáng suốt. Đồng thời, khác với giao dịch thông thường, những người bị Tòa án tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự hay có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi vẫn có thể lập di chúc với những điều kiện nhất định.

Theo quy định tại Điều 625 BLDS năm 2015, yếu tố khả năng nhận thức và điều khiển hành vi được xem xét cụ thể đối với các cá nhân như sau:

Thứ nhất, đối với người thành niên

Độ tuổi thành niên ở Việt Nam được xác định là mười tám. Theo quy định tại Điều 625 BLDS năm 2015, người từ đủ mười tám tuổi sẽ được quyền lập di chúc nhưng phải thỏa mãn điều kiện: minh mẫn, sáng suốt không bị lừa dối, cưỡng ép và đe dọa. Điều này khẳng định, độ tuổi của cá nhân chỉ là điều kiện cần để cho phép thực hiện quyền lập di chúc. Còn điều kiện đủ là cá nhân đó phải có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, đối với người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi

Riêng đối với độ tuổi này, pháp luật không đặt ra quy định trực tiếp đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Vì sự hình thành bản di chúc của chủ thể này trên thực tế hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của cha, mẹ hoặc người giám hộ có đồng ý cho họ lập di chúc hay không. Ở quy định này, chúng ta có thể hiểu rằng trách nhiệm của người làm cha, mẹ hoặc giám hộ cũng được xác định gián tiếp trong việc đánh giá khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người lập di chúc.

Thứ ba, đối với người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi

- Đối với người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: Tuy không quy định cụ thể trong phần nội dung chế định liên quan tới di chúc, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2015, thì “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”, và khoản 2 Điều này quy định: “Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”. Như vậy, có thể nói rằng, người mất năng lực hành vi dân sự không thể tự mình xác lập bất cứ loại giao dịch nào, mọi nhu cầu lợi ích liên quan tới người này sẽ thông qua người đại diện. Đối với việc lập di chúc, pháp luật đã quy định, quyền lập di chúc thuộc về cá nhân người có tài sản, nhưng người mất năng lực hành vi dân sự không thể tự xác lập giao dịch, cũng không thể thông qua người khác để thỏa mãn nhu cầu lợi ích của mình về việc định đoạt tài sản bằng di chúc, do vậy, mọi “giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”.

- Người bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 BLDS năm 2015, người hạn chế năng lực hành vi dân sự là “người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”. Khoản 2 Điều này quy định: “Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác”.

Xét về bản chất, người hạn chế năng lực hành vi dân sự là người bị các chất kích thích tác động tới hệ thần kinh trung ương khiến họ bị ảnh hưởng về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi dẫn đến phá tán tài sản của gia đình. Điều này làm ảnh hưởng tới đời sống của gia đình và vì vậy, pháp luật mới quy định quyền, lợi ích của những thành viên khác trong gia đình sẽ được bảo vệ khi yêu cầu Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi với họ. Các giao dịch không nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, hoặc luật liên quan có quy định khác mà họ xác lập có thể bị tuyên bố vô hiệu (nếu có yêu cầu). Chúng tôi cho rằng, di chúc là loại giao dịch cần đến khả năng nhận thức, điều khiển hành vi một cách phù hợp của người lập ra nó và có hiệu lực khi người này chết đi. Trong khi đó, việc tuyên bố cá nhân hạn chế năng lực hành vi dân sự nhằm hạn chế việc xác lập các giao dịch có thể làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích của các thành viên gia đình. Cho nên, di chúc do người bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự lập ra không nên bị coi là giao dịch vi phạm điều kiện về chủ thể xác lập giao dịch.

- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Khoản 1 Điều 23 BLDS năm 2015 quy định: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”.

Đây là quy định lần đầu tiên được ghi nhận trong BLDS năm 2015. Về nguyên tắc, các giao dịch của người này sẽ thông qua người giám hộ. Nhưng việc lập di chúc không thể thông qua cơ chế uỷ quyền, nên thông qua giám hộ trong trường hợp này cũng không có ý nghĩa. Trong khi BLDS năm 2015 cũng như các BLDS trước đó có đề cập tới người bị hạn chế về mặt thể chất và đối với việc lập di chúc quy định rằng: “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực”[6]. Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi đã “xuất hiện” trong phần chung BLDS năm 2015 nhưng không được đề cập tới tại phần di chúc. Điều này dễ gây ra nhầm lẫn trong cách hiểu và áp dụng.

 

3. Một số câu hỏi thường gặp về người lập di chúc

Dựa trên quá trình tư vấn, soạn thảo và tham gia giải quyết các vụ tranh chấp có liên quan đến người lập di chúc - Luật Minh Khuê tổng hợp một số vướng mắc thường gặp vè vấn đề này như sau:

Người không biết chữ có thể trở thành người lập di chúc không?

Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành, người không biết chữ hoàn toàn có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác. Pháp luật không tước đoạt quyền định đoạt tài sản của một cá nhân chỉ vì họ không biết chữ hoặc không biết viết. Tuy nhiên, do hạn chế về khả năng đọc viết, hình thức của bản di chúc trong trường hợp này phải tuân thủ các điều kiện cực kỳ ngặt nghèo để đảm bảo tính khách quan và bảo vệ ý chí thực sự của người lập di chúc.

Căn cứ theo Khoản 3 Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015, đối với người không biết chữ (hoặc người không thể tự mình viết bản di chúc), di chúc bắt buộc phải được lập dưới hình thức di chúc bằng văn bản có người làm chứng (hoặc có người công chứng, chứng thực hỗ trợ). Cụ thể, các yêu cầu pháp lý bao gồm:

  1. Phải nhờ người khác viết hoặc đánh máy hộ: Do không biết chữ, người lập di chúc phải nhờ một người khác viết hoặc đánh máy nội dung di chúc theo đúng ý nguyện của mình.
  2. Bắt buộc phải có người làm chứng: Việc lập di chúc phải có ít nhất từ 02 người làm chứng trở lên chứng kiến toàn bộ quá trình. Người viết hoặc đánh máy hộ cũng có thể đồng thời là người làm chứng, nhưng phải đảm bảo đủ điều kiện làm chứng theo quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 (không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, không có quyền/nghĩa vụ tài sản liên quan).
  3. Thủ tục điểm chỉ và chứng nhận/chứng thực: Sau khi nội dung di chúc được đọc lại cho người lập di chúc nghe và người lập di chúc xác nhận đúng ý nguyện, người lập di chúc phải điểm chỉ (in dấu vân tay) vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng.
  4. Bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực: Theo khoản 3 Điều 634, di chúc của người không biết chữ phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực tại thời điểm lập di chúc. Khi công chứng/chứng thực, công chứng viên hoặc người có thẩm quyền phải chứng kiến việc điểm chỉ và xác nhận người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt.

Người không biết chữ vẫn được lập di chúc bằng văn bản, nhưng bắt buộc phải nhờ người viết/đánh máy hộ, có ít nhất hai người làm chứng, phải điểm chỉ và thực hiện thủ tục công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền ngay lúc lập. Khi thực hiện việc này, gia đình nên liên hệ trực tiếp với các Văn phòng công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã để được hướng dẫn quy trình lập di chúc điểm chỉ chuẩn xác, tránh rủi ro tranh chấp về sau.

Người gốc Việt Nam sinh sống ở nước ngoài thì lập di chúc thế nào? 

Người gốc Việt ở nước ngoài có thể lập di chúc tại quốc gia đang cư trú (sau đó hợp pháp hóa lãnh sự), tại các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, hoặc trực tiếp tại các tổ chức hành nghề công chứng khi về Việt Nam.

Do tính chất pháp lý có yếu tố nước ngoài thường phức tạp về thủ tục giấy tờ và các quy định về bất động sản, người lập di chúc nên liên hệ trước với cơ quan công chứng hoặc luật sư chuyên sâu để được hướng dẫn chính xác bộ hồ sơ cần chuẩn bị.

Người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam thì lập di chúc thế nào?

Người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam có thể lập di chúc tại các tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam (với sự hỗ trợ của phiên dịch viên nếu không biết tiếng Việt) hoặc tại Đại sứ quán/Lãnh sự quán nước mình tại Việt Nam.

Do các quy định về tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam (đặc biệt là nhà đất) có nhiều điểm đặc thù, người lập di chúc nên liên hệ trước với luật sư hoặc văn phòng công chứng chuyên sâu để được tư vấn chính xác cách bố trí tài sản hợp pháp.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.