1. Người nước ngoài đến khu vực biên giới biển để làm việc phải có những giấy tờ gì?

Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 71/2015/NĐ-CP về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển nước Việt Nam, người nước ngoài có thường trú tại Việt Nam khi đến khu vực biên giới biển phải tuân theo các quy định sau đây:
- Người nước ngoài khi đến khu vực biên giới biển để làm việc phải tuân theo quy định về hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu hợp lệ để xác minh danh tính và quốc tịch của họ. Điều này là một yêu cầu quan trọng để đảm bảo tính nhận dạng và quyền lợi của người nước ngoài trong quá trình hoạt động tại khu vực biên giới biển, cũng như để đảm bảo an ninh và kiểm soát tại các cửa khẩu biên giới và khu vực biên giới biển của Việt Nam.
- Người nước ngoài khi đến khu vực biên giới biển để làm việc phải được trang bị thị thực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Trường hợp miễn thị thực sẽ được quy định cụ thể theo quy định của pháp luật. Việc yêu cầu thị thực là một biện pháp quản lý quan trọng để đảm bảo rằng người nước ngoài vào khu vực biên giới biển có quyền pháp lý và được kiểm soát theo quy định, đồng thời đảm bảo an ninh và quản lý tại biên giới biển của Việt Nam.
- Người nước ngoài khi đến khu vực biên giới biển để làm việc phải cung cấp giấy tờ liên quan đến cư trú tại Việt Nam, trong đó bao gồm giấy xác nhận thường trú tại nước này. Giấy xác nhận thường trú là một tài liệu quan trọng để chứng minh việc họ đã đăng ký thường trú tại Việt Nam. Việc này giúp cơ quan chức năng kiểm soát và quản lý người nước ngoài ở khu vực biên giới biển đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động của họ và đảm bảo an ninh tại biên giới biển của Việt Nam.
- Người nước ngoài khi đến khu vực biên giới biển để làm việc cần được cấp giấy phép vào khu vực biên giới biển từ phía Công an cấp tỉnh nơi họ đã thường trú, tạm trú hoặc Công an cấp tỉnh nơi họ đến. Giấy phép này là một yêu cầu quan trọng để đảm bảo rằng hoạt động của người nước ngoài trong khu vực biên giới biển được kiểm soát và quản lý theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo an ninh và quản lý tại biên giới biển của Việt Nam.
- Trong trường hợp họ có kế hoạch ở lại trong khu vực biên giới biển qua đêm, họ phải thông qua người trực tiếp quản lý hoặc điều hành cơ sở lưu trú để đăng ký lưu trú tại Công an cấp xã tại địa phương cụ thể. Quy định này giúp đảm bảo rằng hoạt động của người nước ngoài trong khu vực biên giới biển được quản lý và theo dõi một cách hiệu quả, đồng thời đảm bảo an ninh và quyền lợi của họ trong quá trình ở lại trong khu vực biên giới biển.
 

2. Thực hiện khai báo lưu trú của người nước ngoài ở khu vực biên giới biển như thế nào?

Tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư 162/2016/TT-BQP quy định về việc khai báo lưu trú của người nước ngoài ở khu vực biên giới biển, người nước ngoài khi lưu trú qua đêm ở khu vực biên giới biển cần tuân theo các quy định sau đây:
(1) Khai báo tạm trú:
- Người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam phải tuân theo quy định về việc khai báo tạm trú bằng cách thông qua người trực tiếp quản lý hoạt động của cơ sở lưu trú. Họ cần thực hiện việc này bằng cách đến Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn, trạm Công an tại địa phương mà cơ sở lưu trú của họ đặt tại. Điều này giúp đảm bảo rằng thông tin về người nước ngoài tạm trú được đăng ký và quản lý một cách đúng đắn, theo quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời đảm bảo sự an toàn và quyền lợi của họ trong quá trình lưu trú tại đất nước này.
- Người trực tiếp quản lý hoạt động của cơ sở lưu trú có trách nhiệm điền đầy đủ thông tin vào mẫu phiếu khai báo tạm trú cho người nước ngoài và chuyển thông tin đến Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn, trạm Công an tại nơi có cơ sở lưu trú trong thời hạn 12 giờ. Trường hợp địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa, thời hạn này được kéo dài lên 24 giờ kể từ thời điểm người nước ngoài đến cơ sở lưu trú.
- Đối với cơ sở lưu trú trong lĩnh vực du lịch như khách sạn, họ phải nối mạng Internet hoặc mạng máy tính với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Công an tỉnh, thành phố thuộc trung ương để truyền thông tin về khai báo tạm trú của người nước ngoài. Các cơ sở lưu trú khác có mạng Internet cũng có thể gửi thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài trực tiếp vào hộp thư điện tử công khai của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Công an tỉnh, thành phố thuộc trung ương.
- Khi người nước ngoài thay đổi nơi tạm trú hoặc tạm trú ngoài địa chỉ được ghi trong thẻ thường trú, họ phải tiến hành khai báo tạm trú theo quy định tại khoản 1 của Điều này.
(2) Tạm trú tại các khu vực đặc biệt:
- Người nước ngoài được tạm trú tại cơ sở lưu trú tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu, khu kinh tế ven biển, khu vực biên giới, và các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác, cũng phải tuân theo quy định về khai báo tạm trú tại Điều 33 của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Điều này đảm bảo rằng việc quản lý và theo dõi hoạt động của người nước ngoài trong các khu vực đặc biệt này được thực hiện theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo an toàn và quyền lợi của họ trong quá trình tạm trú tại Việt Nam
- Tuy nhiên, người nước ngoài không được tạm trú tại các khu vực cấm, khu vực tạm dừng hoạt động trong khu vực biên giới đất liền, vùng cấm, khu vực hạn chế hoạt động trong khu vực biên giới biển. Trong trường hợp người nước ngoài tạm trú tại cơ sở lưu trú trong khu vực biên giới hoặc tại thị trấn, thị xã, thành phố, khu du lịch, dịch vụ, hoặc đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có liên quan đến khu vực biên giới, họ vẫn phải tuân theo quy định về khai báo tạm trú tại Điều 33 của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Cơ quan tiếp nhận thông tin về khai báo tạm trú của người nước ngoài cũng có trách nhiệm thông báo cho đồn biên phòng nơi có cơ sở lưu trú.
 

3. Một số quy định khác về việc người nước ngoài dến hoạt động tại khu vực biên giới biển?

Theo Điều 6 của Thông tư 162/2016/TT-BQP, quy định về người nước ngoài đến, hoạt động hoặc làm việc, học tập trong khu vực biên giới biển, các quy định về thông báo và quản lý người nước ngoài như sau:
- Cơ quan, tổ chức Việt Nam khi đưa người nước ngoài vào khu vực biên giới biển theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 của Nghị định số 71/2015/NĐ-CP, phải thực hiện thông báo bằng văn bản cho Công an, Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh nơi đến biết. Thông báo 162/2016/TT-BQP được thực hiện theo Mẫu số 06 quy định tại Phụ lục được ban hành kèm theo Thông tư 162/2016/TT-BQP, có thể gửi trực tiếp hoặc sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông để chuyển tới đích.
- Trong trường hợp người nước ngoài tham gia hoạt động theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 của Nghị định số 71/2015/NĐ-CP, họ phải thực hiện thông báo bằng văn bản cho Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Công an cấp xã, và Đồn Biên phòng tại địa phương. Thông báo này được thực hiện theo Mẫu số 07 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 162/2016/TT-BQP, có thể gửi trực tiếp hoặc sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông để chuyển tới đích.
Thông qua việc này, các cơ quan chức năng có cơ hội quản lý và đảm bảo sự an toàn, trật tự, và quyền lợi của người nước ngoài trong khu vực biên giới biển theo quy định pháp luật.

Xem thêm bài viết: Mức phạt hành vi vi phạm về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật nhanh chóng