1. Người quản lý doanh nghiệp nhà nước nếu làm lộ tài liệu nội bộ của cơ quan có thẩm quyền thì bị xử lý như thế nào?

Theo Điều 2 của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018, quy định như sau:

- Bí mật nhà nước: Đây là thông tin có nội dung quan trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định. Thông tin này chưa được công khai và nếu bị lộ hoặc mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia và dân tộc. Bí mật nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như tài liệu, vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác.

- Bảo vệ bí mật nhà nước: Đây là hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm sử dụng lực lượng, phương tiện, và biện pháp để phòng ngừa và chống xâm phạm bí mật nhà nước.

Vì vậy, trong trường hợp người quản lý doanh nghiệp nhà nước làm lộ tài liệu nội bộ của cơ quan có thẩm quyền ra bên ngoài, hành vi này sẽ được coi là vi phạm về bảo vệ bí mật nhà nước. Điều này ám chỉ rằng người quản lý đã không tuân thủ và thực hiện đúng các quy định liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước. Người quản lý doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm chịu trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước và tuân thủ các quy định liên quan đến việc bảo vệ bí mật nhà nước. Nếu người quản lý vi phạm các quy định này, họ sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật và có thể bị xử lý theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước. Hình phạt có thể áp dụng cho hành vi vi phạm bảo vệ bí mật nhà nước được quy định trong Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018. Các hình phạt bao gồm cảnh cáo, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, kỷ luật đối với quân nhân, buộc thôi việc đối với công chức và quân nhân, xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý kỷ luật, và trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể áp dụng hình phạt hình sự.

Đồng thời, căn cứ vào Điều 60 của Nghị định 159/2020/NĐ-CP, hình thức kỷ luật khiển trách được áp dụng đối với người quản lý nhà nước, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật lần đầu, gây hậu quả ít nghiêm trọng. Các trường hợp áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách bao gồm:

- Vi phạm quy định về kỷ luật lao động, nội quy và quy chế của đơn vị.

- Lợi dụng vị trí công tác nhằm mục đích vụ lợi.

- Không tuân thủ quyết định của cấp có thẩm quyền, không thực hiện nhiệm vụ được giao mà không có lý do chính đáng, gây mất đoàn kết trong đơn vị.

- Vi phạm quy định pháp luật về phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, trật tự và an toàn xã hội, phòng chống tham nhũng, tiết kiệm và chống lãng phí.

- Vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

- Vi phạm quy định pháp luật về khiếu nại và tố cáo.

- Vi phạm quy định về quy chế tập trung dân chủ, tuyên truyền và phát ngôn, bảo vệ chính trị nội bộ.

- Vi phạm quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, xây dựng, đất đai và tài nguyên môi trường, tài chính, kế toán, ngân hàng, quản lý và sử dụng tài sản công trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

- Vi phạm quy định pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, dân số, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, an sinh xã hội và các quy định khác liên quan đến doanh nghiệp.

Vì vậy, trong trường hợp người quản lý doanh nghiệp nhà nước lần đầu làm lộ tài liệu nội bộ của cơ quan có thẩm quyền ra bên ngoài và gây hậu quả ít nghiêm trọng, hình thức kỷ luật khiển trách sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, nếu gây hậu quả nặng hơn, sự xử phạt có thể là cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm hoặc buộc thôi việc, phụ thuộc vào mức độ vi phạm cụ thể. Ngoài ra, trong trường hợp làm lộ bí mật nhà nước, tùy thuộc vào hành vi cụ thể, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, theo quy định tại Điều 337 và 338 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Nguyên tắc xử lý kỷ luật người quản lý doanh nghiệp nhà nước 

Theo Điều 56 của Nghị định 159/2020/NĐ-CP về nguyên tắc xử lý kỷ luật, các quy định được tuân thủ như sau:

- Khách quan, công bằng, công khai, minh bạch và nghiêm minh đúng pháp luật: Quá trình xử lý kỷ luật phải tuân thủ các nguyên tắc này để đảm bảo tính công bằng và tuân thủ quy định pháp luật.

- Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần và áp dụng một hình thức kỷ luật: Trong trường hợp có từ hai hành vi vi phạm trở lên, các hành vi vi phạm sẽ được xử lý và áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn so với hành vi vi phạm nặng nhất. Tuy nhiên, nếu có hình phạt buộc thôi việc, thì không áp dụng việc xử lý từng hành vi vi phạm riêng lẻ với các hình thức kỷ luật khác nhau.

- Xử lý kỷ luật liên quan đến người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước: Nếu trong quá trình thi hành quyết định kỷ luật, họ tiếp tục có hành vi vi phạm, nguyên tắc xử lý kỷ luật sẽ áp dụng như sau: a) Nếu hành vi vi phạm nhẹ hơn hoặc bằng với hình thức kỷ luật đang thi hành, sẽ áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn. b) Nếu hành vi vi phạm nặng hơn so với hình thức kỷ luật đang thi hành, sẽ áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm mới.

- Căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu và sửa chữa, việc khắc phục khuyết điểm, vi phạm và hậu quả đã gây ra khi xem xét xử lý kỷ luật.

- Không áp dụng hình thức xử phạt hành chính hoặc hình thức kỷ luật đảng để thay thế hình thức kỷ luật theo quy định của Nghị định này. Xử lý kỷ luật không thay thế cho truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm đạt đến mức bị xử lý hình sự.

- Trong trường hợp người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước đã bị xử lý kỷ luật đảng, hình thức kỷ luật phải đảm bảo ở mức độ tương xứng với kỷ luật đảng. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật đảng, cấp có thẩm quyền phải xem xét và quyết định về việc xử lý kỷ luật.

- Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự và nhân phẩm trong quá trình xử lý kỷ luật.

- Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước có hành vi vi phạm lần đầu và trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực, có cùng hành vi vi phạm sẽ bị coi là tái phạm. Nếu hành vi vi phạm diễn ra sau thời hạn 24 tháng, hành vi đó sẽ được coi là vi phạm lần đầu, nhưng sẽ được tính là tình tiết tăng nặng khi xem xét xử lý kỷ luật.

=> Như vậy, các nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt để đảm bảo tính chính xác, công bằng và minh bạch trong quá trình xử lý kỷ luật. Việc này đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng quá nhiều.

3. Trường hợp nào người quản lý doanh nghiệp vi phạm nhưng chưa thể xem xét kỷ luật không?

Theo quy định tại Điều 59 của Nghị định 159/2020/NĐ-CP, người quản lý doanh nghiệp nhà nước sẽ không bị xem xét kỷ luật trong một số trường hợp cụ thể. Chi tiết các trường hợp chưa xem xét kỷ luật và miễn trách nhiệm kỷ luật:

- Trường hợp đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ chế độ, nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật và được cấp có thẩm quyền cho phép. Điều này áp dụng khi người quản lý doanh nghiệp đang tận hưởng các loại nghỉ phép được quy định theo quyền lợi của mình.

- Trường hợp đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng và đang điều trị nội trú tại bệnh viện có xác nhận từ cơ quan y tế có thẩm quyền. Điều này áp dụng khi người quản lý doanh nghiệp đang gặp khó khăn về sức khỏe và cần thời gian để điều trị, phục hồi.

- Trường hợp là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đối với nam giới, trường hợp này áp dụng trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi và sự phát triển của trẻ em trong gia đình.

- Trường hợp đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận từ cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trường hợp này không áp dụng nếu cơ quan có thẩm quyền quyết định xem xét kỷ luật người quản lý doanh nghiệp trong quá trình xét xử.

=> Trong trường hợp người quản lý doanh nghiệp nhà nước lợi dụng vị trí công tác để thu lợi cá nhân, dù trong những trường hợp trên, họ vẫn có thể bị xem xét kỷ luật theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng, trách nhiệm và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật trong quản lý doanh nghiệp. Theo Điều 59 của Nghị định 159/2020/NĐ-CP, người quản lý doanh nghiệp nhà nước không bị xem xét kỷ luật trong các trường hợp như nghỉ phép theo quy định, điều trị bệnh nặng, thai sản và nuôi con nhỏ, hoặc khi đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, việc lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi cá nhân vẫn có thể bị xem xét kỷ luật theo quy định pháp luật. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng, trách nhiệm và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật trong quản lý doanh nghiệp.

Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê: Các hình thức góp vốn trong doanh nghiệp và nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiệp?

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!