1. Nguồn của Luật Môi trường?

Luật sư hướng dẫn:

Trong việc thực hiện các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như nghiên cứu khoa học pháp lí về bảo vệ môi trường, vấn đề quan trọng đặt ra là cần xác định được những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật đó, tức là cần xác định nguồn của pháp luật bảo vệ môi trường. Dưới góc độ pháp lí, nguồn của pháp luật bảo vệ môi trường là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phê chuẩn, theo những thủ tục, trình tự và dưới những hình thức nhất định, có nội dung chứa đựng những quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Trên thực tế khi nghiên cứu nguồn của pháp luật bảo vệ môi trường cũng như nguồn của bất kì ngành luật nào trong những thời điểm nhất định chúng ta chỉ xem xét những văn bản có hiệu lực thi hành ở thời điểm đó.

Nguồn của pháp luật bảo vệ môi trường bao gồm một hệ thống những văn bản pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành. Cũng như nguồn của nhiều ngành luật, lĩnh vực khác, nguồn của luật môi trường rất đa dạng về hình thức. Nhiều quy phạm pháp luật môi trường được ban hành trong văn bàn pháp luật chung và cũng có nhiều quy pháp pháp luật được hệ thống hoá và ban hành trong văn bản pháp luật riêng về lĩnh vực môi trường. Chính vì vậy việc xác định nguồn của luật môi trường có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của các quy phạm.

Nguồn là các văn bản luật như:

Thứ nhất, Hiến pháp

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền tảng của hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất về chế độ chính ttị kinh tế văn hoá xã hội quốc phòng, an ninh quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo nhân dân làm chủ Nhà nước quản lí.

Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lí cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các quy định của Hiến pháp tuỳ thuộc vào những nội dung khác nhau là nguồn của tất cả các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và đĩ nhiên là nguồn của luật môi trường. Với ý nghĩa là nguồn của pháp luật môi trường, Hiến pháp năm 2013 có những quy định về bảo vệ môi trường. Chúng là cơ sở cho việc ban hành các quy phạm pháp luật về môi trường. Chẳng hạn, Điều 63 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lí, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”', “Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo”', “Tổ chức, cá nhân gãy ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lí nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại”. Quy định này tạo ra cơ sở hiến định cho việc xác quy định nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo vệ môi trường. Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định chế độ sở hữu toàn dân đối với các thành phần môi trường quan trọng: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lí là tài sản côngthuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí”. Điều 43 Hiến pháp còn quy định “Mọi người có quyền được sổng trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”.

Các quy định này đã có ảnh hưởng sâu sắc tới địa vị pháp lí của các chủ thể trong quan hệ pháp luật môi trường. Một doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân khi thực hiện các hành vi tác động vào môi trường cần phải hiểu rằng họ đang tác động tới sở hữu của nhà nước. Khác với chủ sở hữu, việc tác động của các chủ thể này đến các yếu tố khác nhau của môi trường, đặc biệt là đất đai, các nguồn nước dưới sự giám sát của chủ sở hữu là nhà nước.

Ảnh hưởng quan trọng khác của các quy định của Hiến pháp sự quyết định của chúng tới nội dung của các văn bản pháp luật khác về môi trường. Các văn bản pháp luật này phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013. Hơn nữa, các quy định của Hiến pháp năm 2013 quyết định việc tham gia hay không tham gia điều ước quốc tế đa phương hay song phương về môi trường.

>> Xem thêm:  Xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí ?

Thứ hai, Luật

Bên cạnh Hiến pháp với tư cách là đạo luật gốc có ý nghĩa nền tảng chung, các luật đơn hành cũng chứa đựng nhiều quy định về môi trường hoặc liên quan trực tiếp đến môi trường. Có những đạo luật mà nhà nước ban hành chỉ để điều chỉnh các vấn đề cụ thể về môi trường song cũng có những đạo luật trong đó Nhà nước xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể đối với việc bảo vệ môi trường trong một lĩnh vực cụ thể nào đó như thương mại, giao thông, xây dựng. Trong số các đạo luật được coi là nguồn của luật môi trường trước hết phải kể đến các luật đơn hành được ban hành để điều chỉnh các vấn đề cụ thể về môi trường.

- Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 2005. Vói 20 chương, 170 điều, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 là nguồn cơ bản nhất của pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành. Đây là đạo luật dành riêng cho vấn đề bảo vệ môi trường với những quy định cơ bản tập trung thống nhất về các vấn đề:

+ Chính thức hoá một số khái niệm về môi trường và các yếu tố của nó. Quy định rõ và cụ thể các nguyên tắc cơ bản về bảo vệ môi trường, chính sách bào vệ môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường được Nhà nước khuyến khích và các hành vi bị nghiêm cấm.

+ Xác định trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với các ngành, lĩnh vực như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, khai thác khoáng sản, du lịch, nông nghiệp, thuỷ sản...

+ Quy định về bảo vệ môi trường cụ thể đối với từng địa bàn, khu vực, như: đô thị, khu dân cư tập trung, nơi công cộng, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làng nghề, biển, nước sông, công trình thuỷ lọi, hồ chứa nước.

+ Yêu cầu về bảo vệ môi trường được quy định đối với toàn bộ quá trình phát triển từ khâu lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; lập, phê duyệt và thực hiện dự án đầu tư và trong quá ttình hoạt động; trách nhiệm thu hồi, xử lí sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ.

+ Sử dụng đồng bộ các công cụ, biện pháp quản lí môi trường, như: quy chuẩn kĩ thuật môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ mồi trường, quan trắc và báo cáo về môi trường, công cụ kinh tế, thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường.

+ Xã hội hoá mạnh mẽ và nâng cao vai trò của người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường như: cho phép các đối tượng thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia vào quá trình đánh giá tác động môi trường, khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức có năng lực tham gia hoạt động quản lí chất thải và hoạt động quan ttắc môi trường, bảo đảm quyền được biết thông tin về môi trường của mọi tổ chức, cá nhân, phát triển dịch vụ môi trường, khuyến khích tổ chức, cá nhân hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và người dân trong bảo vệ môi trường.

+ Quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường như: ttách nhiệm của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, uỷ ban nhân dân các cấp; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khác.

>> Xem thêm:  Ô nhiễm không khí là gì ? Kiểm soát ô nhiễm không khí như thế nào ?

- Các luật đơn hành về lĩnh vực khác song có chứa đựng một số quy định về bảo vệ môi trường bao gồm:

+ Luật khoáng sản năm 2010.

Luật khoáng sản số 60/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá xn, kì họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2011) là đạo luật đơn hành khác mà chúng ta cần phải kể đến nếuxét ở góc độ bảo vệ môi trường. Điều 30 Luật khoáng sản quy định rõ các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai khoáng phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Khai khoáng là một trong những hoạt động của con người có thể gây ảnh hưởng nghiêm ttọng đến môi trường. Vì vậy, tuy được ban hành để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến việc quản lí, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản song luật này chứa đựng khá nhiều các quy định về bảo vệ môi trường.

+ Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 cũng là vãn bản pháp luật đơn hành có chứa nhiều quy định về bảo vệ môi trường.

+ Bộ luật dân sự năm 2015, văn bản pháp luật được pháp đỉển hoá cao nhằm đỉều chỉnh các quan hệ dân sự cũng đậc biệt lưu ý đến các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường . Các quy định ttong Bộ luật dân sự năm 2015 gắn việc sử dụng, định-đoạt, sở hữu tài sản với nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

+ Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thay thế Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991.

+ Luật dầu khí năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dầu khí năm 2000; Luật sửa đổi, bổ sung một sổ điều cùa Luật dầu khí năm 2008.

+ Luật đất đai năm 2013 thay thế Luật đất đai năm 2003.

+ Luật tài nguyên nước năm 2012.

+ Bộ luật hình sự năm 2015999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2017 quy định trách nhiệm hình sự đối với những hành vi xâm hại các yếu tố của môi trường như tội làm ô nhiễm môi trường... tại Chương XVII - Chương các tội phạm về môi trường.

>> Xem thêm:  Mục đích, ý nghĩa của quá trình đánh giá môi trường là gì ?

+ Luật thuỷ sản năm 2003 thay thế Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản năm 1989 (Hiện nay, Quốc hội đã ban hành Luật Thủy sản 2017, có hiệu lực từ ngày 01/1/2019).

+ Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kĩ thuật năm 2006.

+ Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007.

+ Luật hoá chất năm 2007.

+ Luật đa dạng sinh học năm 2008.

+ Luật an toàn thực phẩm năm 2010.

Thứ ba, là các văn bản dưới luật

+ Pháp lệnh của Uỳ ban thường vụ Quốc hội

Pháp lệnh cũng là một trong những nguồn quan trọng khác của luật môi trường. Trong số các pháp lệnh có chứa đựng nhiều quy định về môi trường cần phải kể đến các pháp lệnh sau đây:

+ Pháp lệnh khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi năm 2000;

>> Xem thêm:  Bảo vệ môi trường là gì ? Phân tích về hiện trạng bảo vệ môi trường ?

+ Pháp lệnh giống cây hồng năm 2004;

+ Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004.

+ Nghị quyết, nghị định của Chính phủ

Các văn bản của Chính phủ có liên quan đến vấn đề môi trường được ban hành khá nhiều, đậc biệt là dưới hình thức nghị định, nghị quyết. Các nghị định dưới đây cần được lưu ý khi áp dụng để giải quyết các vấn đề của môi trường:

+ Nghị định số 23/HĐBT ngày 24/01/1991 của Chính phủ ban hành điều lệ vệ sinh;

+ Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước;

+ Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

+ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng;

+ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;

+ Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lí hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và ttồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm.

>> Xem thêm:  Môi trường là gì ? Vai trò của môi trường là gì ? Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ?

+ Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí rừng, bảo vệ rừng và quản lí lâm sản (thay thế Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007);

+ Nghị định 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (thay thế Nghị định so 179/2013/NĐ-CP ngắy 14/11/2013 ).

+ Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đa dạng sinh học.

+ Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21/6/2010 của Chính phủ về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen.

+ Quyết định, chi thị, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch uỳ ban nhân dân tỉnh

Bên cạnh các văn bản của Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các tỉnh cũng ban hành nhiều vãn bản về môi trường. Vai trò của loại nguồn này trong điều kiện của hệ thống pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở nước ta không phải là nhỏ. Tác dụng giải thích và định hướng của các văn bản này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện pháp luật môi trường.

2. Môi trường là gì?

Môi trường là gì?

Môi trường là một khái niệm gắn liền với sự sống, bao gồm những thực thể và hiện tượng của tự nhiên, bảo đảm cho sự phát sinh và phát triển của sự sống.

Nói cách khác, môi trường là toàn bộ các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của sinh vật.

3. Nguyên nhân nào dẫn đến sự suy thoái môi trường?

Nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường là:

Do sử dụng mặt đất, mặt nước để tạo thành những sản phẩm phục vụ cho con người. (Do xây dựng những nhà máy, nhà ở . . ., mở đường giao thông làm cho đất nông nghiệp bị mất dần, khai thác bề mặt nước để nuôi trồng thủy sản làm cho sinh vật ngày càng giảm về số lượng và có nguy cơ tuyệt chủng).

– Do canh tác mãnh liệt trên đất, làm cho đất bị chay, sói mòn; những đồng cỏ trên thảo nguyên ngày càng trở thành sa mạc (VD: do canh tác 3 vụ, sử dụng nhiều hóa chất, phân bón, thuốc trừ sâu).

– Do hàng trăm triệu dân nghèo gây nên, sự phân bố dân cư không đồng đều cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường.

4. Để bảo vệ môi trường Việt Nam đã đưa ra chính sách và chương trình hành động như thế nào?

Để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, Việt Nam đã đưa ra chính sách và chương trình hành động như sau:

Từ những năm 80, Việt Nam đã có những quan tâm thiết thực đến chương trình và hành động bảo vệ môi trường. cụ thể:

* Về chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:

Hội đồng bộ trưởng đã thông qua “kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững”, chính thức ban hành kế hoạch này ngày 12/6/1992. Kế hoạch quốc gia đã đề cập đến việc: xây dựng chính sách pháp luật, thể chế môi trường; xây dựng các cơ quan quản lý môi trường; các công cụ quản lý môi trường trong phạm vi cả nước. Kế hoạch đã vạch ra chương trình hành động sau:

Phát triển đô thị và dân số:

– Phải có kế hoạch tổng thể phát triển đô thị đúng đắn về mặt môi trường cho từng thành phố có gắn kết chặt chẽ các yếu tố liên quan đến phân vùng đất đai, các công trình xây dựng, giao thông vận tải, cung cấp năng lượng, cung cấp nước, quản lý cống rãnh, chất thải. Kế hoạch thành phố phải có số dân phù hợp tránh tập trung dân số cao.

Ổn định dân số: Dân số nước ta tăng nhanh ảnh hưởng đến sản xuất lương thực, tài nguyên, môi trường. Mỗi năm tăng thêm 1,1 triệu người. Cho nên cần thiết phải giảm gia tăng dân số để đạt được mức ổn định.

Sản xuất lương thực:

Trong 50 năm qua, nông nghiệp nước ta phát triển chậm. Bình quân lương thực đầu người thấp 300 kg/người. Trong thời gian tới cần gia tăng sản lượng lương thực bằng cách giải phóng sức sản xuất nông nghiệp, khai thác hợp lý tiềm năng đất đai, sức lao động, vốn và kinh nghiệm sản xuất của nông dân. Cần cân nhắc kỷ việc khai khẩn đất mới, phá rừng trồng lúa, sao cho có hiệu quả kinh tế đồng thời bảo vệ môi trường.

Trồng rừng và bảo vệ đa dạng sinh học:

Rừng là tài nguyên vô giá nhưng trong mấy chục năm qua rừng đã giảm sút do chiến tranh, do phát triển kinh tế. Rừng bị mất kéo theo sự giảm đa dạng sinh học vốn phong phú và đa dạng. Nhiều loài đã và đang bị tuyệt chủng. Trong 4 thập niên qua, có ít nhất là 200 loài chim và 120 loài thú bị diệt vong.

Biện pháp bảo vệ:

– Cấm phá rừng nguyên sinh và đầu nguồn.

– Ổn định dân số, giảm đói nghèo cho dân vùng rừng núi và các vùng nông thôn.

– Có chính sách giao đất, giao rừng bảo đảm lợi ích nông dân và lợi ích quốc gia.

– Trồng lại rừng và cây phân tán ở khắp nơi.

– Kiểm soát việc săn bắt, buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã.

– Cấm các phương tiện đánh bắt có tính cách hủy diệt sự sống (chất độc, đánh bắt bằng điện . . )

– Củng cố và mở rộng các khu bảo tồn, vườn quốc gia, rừng cấm.

Phòng chống ô nhiễm:

Môi trường nước, không khí và đất đã bị ô nhiễm, có khi đến mức trầm trọng cả ở thành thị lẫn nông thôn. Rác thải, nước thải và khí thải ở các đô thị là vấn đề phức tạp nhất. Ở nông thôn, tập quán ở theo kinh rạch, không đủ điều kiện vệ sinh, lạm dụng phân bón và nông dưụơc làm cho môi trường nông thôn cũng bị ô nhiễm, đặc biệt là khan hiếm nước sạch. Điều đáng nói là ở nước ta chưa có hệ thống xử lý chất thải, cho nên những thứ dơ bẩn đều vứt trực tiếp ra môi trường.

Để từng bước cải thiện tình trạng ổ nhiễm môi trường cần có các biện pháp sau:

– Nâng cao dân trí, làm cho mọi người thấy rằng môi trường xung quanh và các công trình công cộng là của chúng ta, chứ không phải là của “chúng nó”.

– Các tiêu chuẩn quốc gia và địa phương về chất thải phải được mọi người tuân thủ. Do đó nhà máy, xí nghiệp phải tự giảm thiểu chất thải bằng quy trình công nghệ và xây dựng hệ thống xử lý chất thải của cơ sở.

– Khuyến khích công nghệ sạch (sử dụng phân hữu cơ thay thế một phần phân hóa học, biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại (IBM) ở nông thôn, công nghệ ít chất ô nhiễm trong công nghiệp . . .).

– Xây dựng nhà máy xử lý chất thải sinh hoạt.

Quản lý và quy hoạch môi trường:

– Thành lập Bộ khoa học – công nghệ – môi trường và các Sở khoa học – công nghệ – môi trường ở các tỉnh.

– Xây dựng chính sách và pháp luật về môi trường.

– Ban hành tiêu chuẩn về môi trường và cách đánh giá tác động môi trường.

– Xây dựng hệ thống quan trắc quốc gia.

– Đẩy mạnh nghiên cứu về môi trường nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách, đồng thời hướng tới sự phát triển bền vững.

– Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực trong việc bảo vệ và quy hoạch môi trường.

Tăng cường các biện pháp hổ trợ giáo dục đào tạo:

– Nâng cao dân trí tổng quát và cải thiện điều kiện sống của quần chúng.

– Đưa chương trình giáo dục về môi trường, tình yêu thiên nhiên vào các lớp học chính khóa, ngoại khóa (du khảo, tham quan).

– Đào tạo đội ngũ có kiến thức cơ bản về khoa học môi trường và có khả năng đề xuất các ý kiến xử lý và bảo vệ môi trường.

Tất cả các chương trình hành động có thể làm cơ sở cho chúng ta phát triển, đồng thời sử dụng và bảo vệ tài nguyên và môi trường của mỗi địa phương, quốc gia góp phần bảo vệ trái đất, cái nôi của sự sống.

5. Yếu tố sinh thái là gì? Có mấy nhóm yếu tố sinh thái?

Yếu tố sinh thái là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sinh vật. Yếu tố sinh thái được chia thành 3 nhóm:

– Yếu tố vô sinh: Thành phần không sống của tự nhiên, gồm các nhân tố ánh sáng, nhiệt độ, nước, độ muối, các chất khí (O2, CO2, N2 . . .), đất đai, địa hình.

– Yếu tố hữu sinh: Gồm các cá thể sống như thực vật, động vật, nấm, vi sinh vật . . . Mỗi sinh vật thường chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của các cơ chế trong mối quan hệ giữa cá thể trong quần thể, trong loài, trong quần xã.

– Yếu tố con người: là tất cả các dạng hoạt động của xã hội loài người làm biến đổi thiên nhiên là môi trường sống của các sinh vật. Con người và động vật có những tác động tương tự đến môi trường, có khi còn làm thay đổi hẳn môi trường.

Luật Minh Khuê (biên tập)

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nguyên tắc bảo vệ môi trường?

Trả lời:

Căn cứ Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

1. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.

2. Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành.

3. Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải. 

4. Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia.

5. Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

6. Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường.

7. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường.

8. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường?

Trả lời:

Các dự án phải thực hiện đánh giá tác động môi trường bao gồm:

– Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

– Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng

– Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Những dự án này bao gồm:

+ Nhóm các dự án về xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng

+ Nhóm các dự án về giao thông

+ Nhóm các dự án về năng lượng, phóng xạ, điện tử

+ Nhóm các dự án về thủy lợi, khai thác rừng, trồng trọt

+ Nhóm các dự án về khai thác, chế biến khoáng sản; khai thác tài nguyên

+ Nhóm các dự án về dầu khí

+ Nhóm các dự án về xử lý, tái chế chất thải

+ Nhóm các dự án về cơ khí, luyện kim

+ Nhóm các dự án về chế biến gỗ, sản xuất thủy tinh, gốm sứ

+ Nhóm các dự án về sản xuất, chế biến thực phẩm

+ Nhóm các dự án về chế biến nông sản

+ Nhóm các dự án về chăn nuôi và chế biến thức ăn chăn nuôi

+ Nhóm các dự án về sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật

+ Nhóm các dự án về hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm, nhựa, chất dẻo

+ Nhóm các dự án về sản xuất giấy và văn phòng phẩm

+ Nhóm các dự án về dệt nhuộm và may mặc

+ Nhóm các dự án khác

Câu hỏi: Thực hiện đánh giá tác động môi trường?

Trả lời:

Việc thực hiện đánh giá tác động môi trường được quy định như sau:

– Chủ dự án thuộc đối tượng quy định phải thực hiện đánh giá tác động môi trường tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường.

– Việc đánh giá tác động môi trường phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án

– Kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường thể hiện dưới hình thức báo cáo đánh giá tác động môi trường

– Chi phí lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc nguồn vốn đầu tư dự án do chủ dự án chịu trách nhiệm